Kính thưa đồng bào, quý chiến hữu và quý vị,
Cố Vấn Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong Vi Sơn Vũ Đình San là sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã được thăng cấp Thiếu Tá trước năm 1975.
Ông mới cho xuất bản đại tác phẩm “Nhân Sinh Vũ Trụ Luận” gồm 3 cuốn.
Ông đã giúp hiệu đính Hiến Chương Dân Chủ Việt cho Đảng Dân Chủ Việt.
Ông đã soạn ca khúc Dân Chủ Ca và tặng cho Đảng Dân Chủ Việt làm đảng ca và vẽ kiểu đảng kỳ cho Đảng Dân Chủ Việt.
Ông đã đóng góp nhiều ý kiến và viết nhiều bài giá trị cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong.
Vì những lý do riêng, đặc biệt là lý do tuổi tác, ông chưa tiện ra mặt công khai hoạt động mạnh mẽ cho Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong, cũng như cho Đảng Dân Chủ Việt. Nhưng ông luôn quan tâm và đặc biệt ủng hộ Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong trong nỗ lực duy nhất là phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà của tổ chức.
Tôi xin trân trọng giới thiệu với quý vị một số bài viết của Ngài Cố Vấn:
1. Khoa Học Tổ Chức và Quản Trị
2. Chính Thể Việt Nam
3. Thuật Lãnh Đạo và Chỉ Huy
4. Tiên Liệu Chính Sách Quốc Gia
5. Tổ Quốc và Công Dân
6. Phương Pháp Tham Mưu Văn Phòng
Trân trọng,
T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,
Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống
Phone: 408-623-1814
Email: rvngovernmentinexile@gmail.com
Postal mail: 1165 Barrington Ct San Jose CA 95121 USA
7/7/2019
#######
SƠ-LƯỢC TIỂU-SỬ TÁC-GIẢ
(Tự nói về mình là một điều vạn bất đắc dĩ. Tuy nhiên, vì thành tâm và trách nhiệm đối với tác phẩm, nên cũng mong được trình bày đôi nét khái quát, như là bản tự kiểm điểm hay một thoáng hồi ký mà thôi)
*Vũ-Đình-San, sinh ngày 15-12-1937 tại làng Tráng-Liệt Binh hay Kẻ-Sặt, huyện Bình-Giang, tỉnh Hải-Dương, Miền Bắc Việt-Nam. Tên Thánh Bổn Mạng Dominico. Nguyên có tên gọi là Soạn, do mẹ đặt cho khi người buôn bán hàng sành sứ. Thân mẫu là cụ bà Phạm-Thị-Thoa, thương gia. Thân phụ là cụ ông Vũ-Văn-Kiệm, điền chủ có ruộng “thẳng cánh cò bay”, bậc vị vọng trong làng, từng đảm nhiệm những chức vụ cao nhất về tôn giáo và hành chánh, được phong phẩm hàm Bá Hộ của vua Bảo Đại.
– Cho tới năm 1945: Lớn lên và học kinh, chữ từ vỡ lòng đến lớp tư tại Kẻ-Sặt. Cùng với người chị, đi học bằng xe tay, loại xe như xích lô, nhưng có người chạy bộ kéo. Mồ côi mẹ từ khi 7 tuổi. Tham gia Đoàn Thiếu Nhi Cứu Quốc trong Cách Mạng Mùa Thu. Là con trai duy nhất nhà giàu, với 1 chị, 1 em gái; kế mẫu lại không có con, nên được chiều chuộng nhất. Tính tình bình dân, thân thiện cùng mọi bạn trẻ, không phân biệt tầng lớp.
– Năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, đi tản cư tại làng Đầng hay Văn Xá, thuộc huyện Thanh-Miện. Năm 1947, hồi cư về làng cũ. Từ 1948 đến 1950, tạm cư tại thành phố cảng Hải-Phòng. Học lớp ba và nhì tại trường xứ Thánh-Tâm, lớp 9e và 8e chương trình Pháp tại trường Saint Joseph, dòng La Salle. Mùa Hè 1950, học lớp nhất tại trường Văn-Côi, giáo-xứ Kẻ-Sặt quê nhà.
– Năm 1951-1954: Lên Hà-Nội, học tại trường dòng Puginier, lớp 7e, rồi sang chương trình Việt tại trường xứ Dũng-Lạc, từ đệ thất đến đệ tứ trung học phổ thông. Học quyền anh và nhu đạo tại võ đường Vovinam. Tự học nhạc lý, cùng các nhạc khí khác, đặc biệt là hạ-uy-cầm và sáng tác âm nhạc.
– Là học sinh đầu tiên ở làng được ra tỉnh, lại theo cả hai chương trình Pháp và Việt, trường đạo và trường đời, nên có phong cách nhà tu cùng những tư tưởng cấp tiến. Mỗi kỳ về quê nghỉ hè, thường mở lớp dạy học, có cả tập võ miễn phí cho trẻ em trong làng. Lúc đó, quân đội viễn chinh Pháp trú đóng ở Kẻ-Sặt, nên thường giúp bà con thông dịch, giải quyết được nhiều việc rắc rối vì ngôn ngữ bất đồng.
– Năm 1954, do biến cố chia đôi đất nước, theo gia đình di cư vào Miền Nam, định cư tại Hố-Nai, tỉnh Biên-Hòa. Học trung học đệ nhị cấp tại trường Nguyễn-Trãi, Văn-Hóa và Hàn-Thuyên ở Sài-Gòn. Thi cử lận đận vì mải miết với hoạt động văn-nghệ, kể cả sớm vướng vào vòng yêu đương.
– Người Kẻ Sặt đã di cư vào Miền Nam, nhưng vẫn giữ những hủ tục cũ, nên viết một bức thư kêu gọi các cụ, gọi là “Lá Thư Cải Tiến”. Thư được nhiều người thức thời tán thành, nhưng cũng bị nhiều kẻ bảo thủ lên án, cho rằng “trứng khôn hơn vịt”. Tổ chức những chương trình văn nghệ ở Hố Nai và điều hành các giờ văn hóa của Đoàn Liên Minh Thánh Tâm Kẻ Sặt.
– Năm 1956, học khoá Chính Trị Phổ Thông và khoá Thần Học Giáo Dân tại Sài Gòn. Viết cho tờ nhật báo Cách Mạng Quốc Gia. Lấy bút hiệu là Vi-Sơn.
-Năm 1958-1959, động viên vào Trung Tâm Quang Trung, ra đơn vị, phục vụ tại phòng Tuyên Uý Công Giáo Sư Đoàn 14 Khinh Chiến tại Quy-Nhơn, Kontum. Giúp lễ và dạy hát thiếu nhi thuộc trại gia binh.
-Năm 1960, giải ngũ về ở Hố Nai. Tự học, đọc nhiều sách và viết cho nhật báo Ngôn-Luận ở Sài-Gòn, có tiền nhuận bút. Vì vị chánh xứ KS làm những việc gây thương tổn đến truyền thống phong hóa của làng, nên đã cùng một số người thiện chí lên toà giám mục Sài-Gòn tường trình…Sau đó, vị này đã phải đổi đi.
– Ngày 15-1-1961, lập gia đình, lúc 24 tuổi. Hiền thê là Chu-Thị-Lễ, lúc 18 tuổi, sinh ngày 16-10-1943, cùng nguyên quán. Tên thánh là Maria. Tên thân thương trong gia đình là Si, đúng ra là Cossi, đọc theo âm tiếng Pháp. Bà khôn ngoan, linh lợi và có vẻ…kiêu sa nhất nhà. Thân phụ là cụ ông Chu-Văn-Nghiệp, một doanh nhân thành công và có tinh thần xã hội. Thân mẫu là cụ bà Hoàng-Thị-Lý, người tỉnh Hải-Dương. Là con gái nhà giầu và có địa vị, vì hai cụ ông cùng là bạn đồng liêu, nên đôi bên thật “môn đang hộ đối”. Đám cưới linh đình chưa từng thấy vào lúc đó, với 7 cha đồng tế, ban tân nhạc gia đình và đội kèn đồng. Tiếp tục đi học tại Sài Gòn, đậu bằng Trung Học Phổ Thông.
– Tháng 7 năm 1961, được lệnh tái ngũ vào Trung Đoàn 48 Bộ Binh đồn trú tại Tam-Hiệp, Biên-Hòa, cấp bậc binh nhì, nhiệm vụ truyền tin. Tháng 10, đi thao dượt tại quận Đất Đỏ, Bà-Rịa. Học thi ráo riết ngay trong lều đóng quân bằng đèn pin. Kỳ thi niên khoá 1961-1962 đậu bằng Tú-Tài Bán Phần.
– Năm 1962, theo đơn vị đi hành quân suốt các tỉnh Miền Tây, tới tận Cà Mau. Làm thông dịch cho cố vấn quân sự Mỹ. Tháng 11 năm này, nhận lệnh đi học khoá 14 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Tổng thống Ngô-Đình-Diệm chủ toạ lễ mãn khóa và đặt tên là khoá Nhân Trí Dũng.
– Từ 1963 đến 1969, ra trường với cấp bậc chuẩn uý, được bổ nhiệm tới Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp tại Phước Tuy. Lần lượt được thăng các cấp thiếu uý và trung uý, giữ những nhiệm vụ: phiên dịch binh thư Mỹ-Việt, huấn luyện viên vũ khí, chiến thuật và trưởng phòng tâm-lý-chiến.
– Tháng 11 năm 1963, bị đẩy vào phe đảo chánh tổng thống Diệm. Vì sĩ diện dân tộc, từng cự lại các cố vấn Mỹ hay lên mặt. Được cử thuyết trình tại Bộ Tổng Tham Mưu về phương-pháp huấn luyện và nhận bằng tưởng lục. Tiếp tục tự học và thi đậu bằng Tú Tài Toàn Phần.
-Năm 1964, nhân danh công dân thế giới, viết một bản điều trần về xây dựng Hoà Bình Thế Giới cho tổng thư ký U Thant của tổ chức Liên Hiệp Quốc và được phúc đáp với hảo ý từ uỷ ban nghiên cứu. Năm 1966, trước tình hình chính trị Miền Nam đầy xáo trộn, gửi cho 2 tướng Thiệu, Kỳ một bản đề nghị những biện pháp mạnh để ổn định trật tự hậu phương. Không thấy trả lời, còn bị cơ quan an ninh quân đội điều tra, nhưng một số điểm lại đã được áp dụng! Viết bài cho nguyệt san Tinh Thần của Nha Tuyên Uý Công Giáo, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.
– Năm 1969, chỉ huy một đoàn Sinh Viên Sĩ Quan đi công tác dân sự vụ trong Chiến Dịch Diên Hồng tại tỉnh Hậu-nghĩa. Bị VC bắn sẻ nhiều lần khi di chuyển, nhất là lúc đang thuyết trình trên sân khấu, nhưng vẫn thoát chết. Chuyển công tác về Sài-Gòn. Chấm dứt chiến dịch, rời Trung Tâm Vạn-Kiếp đi đơn vị tác chiến ở quận Bến-Lức, Long-An, làm đại đội trưởng Đại Đội địa phương 549, thay thế hai đơn vị trưởng tiền nhiệm đều tử trận! Tinh thần binh sĩ sa sút, chiến sự lại trầm trọng, nhờ Ơn Trên trợ giúp và phát huy năng lực lãnh đạo, sau 6 tháng, chiến công lập nên liên tiếp, sĩ khí lên cao, được thăng cấp đại-uý.
-Tháng 1-1970, thuyên chuyển về tiểu khu Biên Hoà với lý do con một được phục vụ tại nguyên quán. Làm đại đội trưởng Đại Đội địa phương 311 ở giáo khu Lạc-An. Vào mùa Phục Sinh, tổ chức cho cả đơn vị một buổi tĩnh tâm tại nhà thờ xứ Ngọc-Đồng. Có một đêm, VC pháo kích trúng ngay hầm chỉ huy trên đồi Bà Cẩm, hầm sập, nhưng chỉ bị các bao cát đè lên người nên được an toàn. Tháng 5-1970, làm liên đội phó kiêm sĩ quan chiến tranh chính trị Liên Đội 3/9, đóng tại chi khu Công-Thanh, Biên-Hoà, sau lại chuyển sang chi khu Long Thành, đảm trách cả hai Liên Đội 44 và 45, điều hành chiến dịch Chân Trời Mới về công tác tư tưởng. Tại đồn Bà Ký, đã bị VC đánh đặc công trong một đêm. Khi đối phương tiến về phía hầm chỉ huy để toan ném lựu đạn vào lỗ châu mai, thì chúng đã bị tiêu diệt trước bởi các chiến sĩ cận vệ, được thoát chết lần nữa. Được đi học khoá bộ binh trung cấp ở Thủ Đức, để bồi dưỡng và cũng là an dưỡng.
– Tháng 10-1971, được bầu làm chiến sĩ xuất sắc, nên được phủ tổng thống cử đi du hành quan sát tại Trung Hoa Dân Quốc tức Đài Loan. Đây là lần xuất ngoại đầu tiên trong đời và tận mắt thấy những tiến bộ của người, dù đó chỉ mới là một nước Á châu, mà đã cảm thấy ngậm ngùi cho dân mình. Cùng năm này, viết xong và xuất bản cuốn Quy Tắc Hoạt Động, soạn thảo tập Điều Lệ Hội Hương Lão và bản Hương Ước Kẻ-Sặt để hai cụ Bá Kiệm và cụ Thủ Nghiệp tổ chức đại hội làng đầu tiên tại Miền Nam. Tham dự khoá học hội Kitô Giáo Cursillo 12, giáo phận Xuân Lộc.
– Năm 1972, làm trưởng ban CTCT chi khu Long-Thành. Đồng thời, cũng đưa gia đình sang ở tại quận lỵ và trông nom cây xăng Shell của cụ Thủ. Năm 1973, hoàn thành và xuất bản tác phẩm Nghĩ Về Quê Hương Tráng Liệt Bình, cuốn lịch sử đầu tiên và duy nhất về làng xứ Kẻ-Sặt.
– Năm 1974, học chuyên nghiệp tại Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà-Lạt, đoạt giải nhất cuộc thi hùng biện, là thuyết trình viên các đề tài về nhân bản và tốt nghiệp ưu hạng. Trở về, thuộc quân số Tổng Cục CTCT ở trung ương, nhưng biệt phái cho Tiểu Khu Biên Hoà, phụ trách huấn luyện và tác động tinh thần quân sĩ toàn tỉnh trong tình hình chiến sự và chính sự một mất một còn của quân đội và chế độ Miền Nam. Có 8 huy chương bội tinh: 2 anh dũng, 1 quân vụ, 1 quân phong, 2 huấn vụ, 2 tâm lý.
-Tháng 1-1975, khi bà sinh người con thứ tám, dùng xe nhà binh trong đêm tối đưa bà đi cấp cứu tại bệnh viện Biên Hoà. Tình trạng thập tử nhất sinh vì phải giải phẫu. Các bác sĩ đều bó tay, nhưng Ơn Trên đã cứu bà thoát chết! Hết lo buồn lại mừng vui. Cùng lúc, nhận một nghị định thăng cấp thiếu tá và lệnh chuẩn bị xuất ngoại du học khoá Tâm Lý Chiến (Psychological Warfare) tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên:
– Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 xảy đến, cùng cả nhà trải qua những trận mưa bom đạn trong hầm trú ẩn, trên đường chạy loạn, trong rừng, dưới suối. Cả nhà 9 người đều được che chở, bình an.
– Bị bắt đi “cải tạo” trong suốt 7 năm trời, ở các trại: Long Thành, Bình Sơn, Xuân Lộc, Tân Hiệp hay Suối Máu, Khám Chí Hoà tại Miền Nam và Xuân Phước tận Miền Trung, với vô vàn nghẹn ngào, uất ức về ý thức hệ; biết bao nỗi nhớ thương tình cảm và những cực nhọc, đói rét về thân xác…Nhờ bà gửi tiếp tế và đi thăm nuôi định kỳ nên mới sống còn. Năm 1977, bố mất cũng không được về thọ tang, đang khi ở trại Tân Hiệp gần nhà. Trong các trại tù, liên tục bí mật tổ chức chống đối bạo quyền mà không hề bị phát giác, nhất là cuộc nổi dậy hào hùng đêm Giáng Sinh 1978. Sáng tác những ca khúc đấu tranh, nhưng chỉ ghi nhớ trong ký ức. Kín đáo hướng dẫn giáo lý và đỡ đầu rửa tội thành công cho một bạn tù.
– Tháng 10-1981, được trả tự do, về sum họp với gia đình tại kẻ Sặt 2, Hố Nai. Đời sống kinh tế thật khó khăn trong xã hội mới, vì tình trạng “dở ông dở thằng”, nhưng cũng phấn đấu như mọi người mà làm những việc chân tay, vườn rẫy, trồng sắn, nuôi gia súc, làm miến tróc và mành trúc. Nhờ bà khá quán xuyến, đảm đang trong bao năm nuôi chồng con, lại được tài trợ từ bên ngoại, còn có vàng, nhà, đất mà bán dần, cho nên gia cảnh tuy “giấy rách, vẫn giữ được lề” và “cứ hết lại có” theo tinh thần thánh vịnh 22 của vua Đa-vít, tự phổ nhạc và hát ở nhà thờ: “Chúa nuôi tôi, tôi nào lo thiếu gì” trong suốt 10 năm trường.
– Đó cũng là thời gian đảm nhiệm ủy viên phụng vụ giáo xứ Sặt 2, với nhiều hoạt động canh tân từ Giáo Xứ, Giáo Hạt lên đến Giáo Phận. Hướng dẫn một lớp huấn luyện về nghệ thuật lãnh đạo, viết văn và nói trước công chúng cho các thày “tu chui” trong hoàn cảnh khó khăn của Giáo Hội, dưới chế độ Cộng Sản vô thần.
– Năm 1984, kế mẫu qua đời, quyết định không mời Hàng Giáp là tổ chức tương tế đưa xác theo lệ làng, một hành động cách mạng táo bạo, khiến “các cụ” mất mặt nên lên án gắt gao, nhưng chẳng ai đối thoại được. Năm 1985, khi bán một căn nhà, gia đình đã xây một lễ đài tại nghĩa trang Kẻ-Sặt 2, và đặc biệt, một tượng đài kính Các Anh Hùng Tử Đạo Tiền Nhân Kẻ Sặt tại công trường nhà thờ. Năm 1987, tham dự cuộc tĩnh tâm tu học tại Dòng Đồng Công Thủ Đức. Sau đó, bị công an phường và tỉnh gọi “làm việc” suốt mấy tháng ròng.
– Do những kết quả vận động và can thiệp quốc tế tốt đẹp. chương trình H.O. được hình thành, đưa cả gia đình đi tái định cư tại Hoa-Kỳ ngày 3-4-1991 với tính cách vinh dự là tỵ nạn chính-trị. Một cơ hội mới, một khúc quanh quan trọng mở ra.
– Năm 1992, là đồng sáng lập viên Trung Tâm Sinh Hoạt Cựu Tù Nhân Chính Trị San Jose, California. Hát bản Nhân Quyền Ca đã sáng tác trong trại cải tạo bằng 3 lời Việt, Pháp, Anh trước đại hội 2000 cựu tù nhân chính trị Việt, Mỹ tại trường trung học William Overfelt.
– Là di dân, giai đoạn đầu ai cũng được hưởng những phúc lợi xã hội có giới hạn và ở chung cư. Nhưng do phấn đấu, cũng như các con, đều vừa đi học, đi làm, có thu nhập, dần dần tiến tới tự túc, ổn định, phát triển, và cả nhà trở thành công dân Mỹ.
– Chẳng hề quản ngại mà làm mọi việc từ chân tay đến trí óc. Tại công ty PAC, thuộc hệ thống ‘fast food’, từng trải qua những nhiệm vụ: thấp kém như rửa chén và giao hàng, rồi tương đối là quản lý và huấn luyện. Với số cổ phần được thưởng, cùng với tiền tiết kiệm, đủ “down” để mua một căn nhà khang trang tiện nghi, đạt thành “Giấc Mơ Mỹ” (American Dream) tại thành phố San Jose, CA 95148. Vì thành tích quản trị kinh doanh và huấn luyện công nhân được đánh giá cao, nên từ 1998 đến 2001, công ty đã bao bốn chuyến du lịch nghỉ hè cho hai người đi những nơi đáng ghi nhớ: Hawaii, Las Vegas, Washington DC và Vancouver.
– Ngoài thì giờ đi làm, rất siêng năng với việc nhà và vườn tược, không rượu chè, cờ bạc, đàn đúm. Thú đam mê là viết lách và đọc sách để trau giồi kiến thức, gửi bài định kỳ cho báo chí địa phương như Chính-Nghĩa, Việt-Nam, các Websites trên mạng lưới toàn cầu, và miệt mài soạn nhạc từ đời ca đến thánh ca, cũng như viết những cuốn sách về chủ đề nhân văn…
– Năm 1996, Hội Đồng Hương Kẻ-Sặt Bắc Cali được thành lập, đảm trách đại diện tiên khởi hai nhiệm kỳ. Chủ biên tờ tin thư Liên Lạc. Là thành viên ban biên tập tạp chí Niềm Tin, chủ trương người tín hữu mà “cả dám” đề cập đến những vấn đề triết học và thần học Kitô Giáo.
– Năm 2003, sau 11 năm làm việc và đến tròn 65 tuổi thì về hưu. Thu nhập kiêm tốn hơn. Cùng bà đảm trách công tác phụng vụ tại giáo xứ Saint Maria Goretti và hội họp Liên Gia Cầu Nguyện ở thành phố San Jose liên tục trong 10 năm. Năm 2006, là thành viên “Nhóm Bảo Vệ Đức Tin Kitô Giáo” (Christian Faith Defense Group), tổng biên tập đặc san “Vì Đấng Nhân Từ Nhưng Uy Nghiêm” để phản đối tập đoàn phim ảnh Sony-Columbia đã chiếu cuốn “The Da Vinci Code” nhằm phỉ báng Chúa Cứu Thế. Năm 2012, gửi bản phúc trình 50 trang tới HĐGMVN, nội dung gồm những điều quan tâm và những nỗi ưu tư về nhiều vấn đề trong Giáo Hội…Hướng dẫn và đỡ đầu cho ông thông gia trở lại đạo.
– Khi bước vào tuổi “Thất thập cổ lai hy”, chỉ còn là thành viên Đoàn Liên Minh Thánh Tâm, đặc trách tuyên nghiên huấn và chia sẻ Lời Chúa. Cùng bà là thành viên Hội Các Bà Mẹ Công Giáo, và yểm trợ tài chánh trong khả năng cho các dòng tu và cộng đoàn ở quốc nội. Ông bà cũng thường cùng tham gia đàn, hát, ngâm thơ trong những dịp sinh hoạt đoàn thể, cũng kể như để…níu lại tuổi xuân..
– Năm 2015, làm cố vấn hậu trường cho Đảng Dân Chủ Việt, tu chính cương lĩnh, thiết kế đảng kỳ, sáng tác đảng ca và viết những bài về lý thuyết chính trị trên Facebook. Vì tình trạng hạn hán ở Tiểu Bang California, gửi một bản đề nghị tới Uỷ Ban Tiện Ích Công Cộng (CA Public Utilities Commission) về sáng kiến biến nước biển thành nước dùng, đã được nhiệt liệt tiếp nhận và nghiên cứu áp dụng.
– Đặc biệt, từ 1998 đến 2017, từng cùng bà đi du lịch nhiều Tiểu Bang Hoa Kỳ…và hành hương Thế Giới, gồm: Đất Thánh Do-Thái, Ai-Cập, Ý-Đại-Lợi, Bồ-Đào-Nha, Tây-Ban-Nha, Pháp Quốc, Bosnia, Hung-Gia-Lợi, Ba-Lan, Tiệp-Khắc, Gia-Nã-Đại, Mễ-Tây-Cơ, Nhật-Bản, Đại-Hàn…, kể cả suốt ba miền Nam, Trung, Bắc quê hương Việt Nam. Lãnh nhận Ơn Ích dồi dào. Thu tích Điều Hay phong phú.
– Ăn uống thế nào cũng được, chẳng bao giờ đòi hỏi, quả là “thực bất tri kỳ vị”. Không mưu mô nên thiếu khiếu làm ra tiền. Kém khả năng về kỹ thuật. Tính hướng nội, giầu tình cảm, xa chỗ ồn ào, kỵ với bạo lực. Hay trầm ngâm, chỉ chú trọng về nghệ thuật, tư tưởng, tinh thần.
– Một thú vui và nỗi đam mê lành mạnh là miệt mài suốt ngày trong bao năm để hoàn thành bộ sách vĩ đại, nhan đề “Nhân-Sinh-Vũ-Trụ-Luận”, dày ngót 2000 trang tiêu chuẩn, gọi là tác phẩm để đời. Nội dung bao gồm hệ thống tư duy đặt trên nền tảng Thánh Kinh, Triết Học Đông Tây và Khoa Học để thay đổi Con Người cùngThế Giới. Và, đã do hãng thông tấn Xulon Press ở tiểu bang Florida in ấn thành 3 tập I, II, III, và xuất bản vào cuối năm 2018…
– Hàng trăm chủ đề về mọi lãnh vực trong đại tác phẩm cũng đã có đăng trên trang mạng xã-hội Facebook và gửi tới các Nhóm Điện Thư Hội Đoàn; được độc giä khắp nơi nhiệt liệt tán-thưởng với những lời bình luận tích cực.
– Đầu năm 2022, bộ sách này đã được bổ khuyết, bổ túc, dầy tới 2008 trang; được công ty Book Writing Founders ở tiểu bang Illinois in trọn thành Một Cuốn, và tái bản lần thứ 2.
-Các con đều đã kết hôn, có đời sống ổn định với nhà cửa riêng, công việc chuyên ngành điện tử. Đại gia đình gồm: ông bà cùng các con 4 trai, 3 gái, 7 dâu, rể và 14 cháu nội ngoại, ngoan hiền. Có mấy cháu đã tốt nghiệp đại học và ra làm việc.
– Tóm lại, đời sống gia đình, và riêng bản thân quả thực: Không phải giầu có, cũng chẳng nghèo nàn. Không tài giỏi gì, mà chỉ ham học. Đâu đáng là đạo đức, nhưng nào đến nỗi tệ và chưa hề phạm pháp. Vẫn kiên trì chiến đấu với khuyết điểm, kể cả tội lỗi…Can đảm vừa phải thôi, nhưng không vô cảm trước những thái quá hay bất cập trong đạo cũng như ngoài đời. Tuy từng gặp gian lao nguy hiểm, mà vẫn thoát khỏi bị thương tích. Không cường tráng, nhưng chưa phải nằm bệnh viện. Cho tới khi viết những dòng này thì đã bước tới tuổi thượng thọ trên bát tuần rồi, nên có thể được tạm gọi là “vô bịnh tiểu thần tiên”! Cả đời chỉ đã, đang và sẽ lo tu dưỡng, tập luyện và học hỏi, cho tới giây phút giã từ thế gian, trở về cõi trường sinh. Nói chung là một cuộc đời bình-thường, êm-đềm và hạnh-phúc. Tạ ơn Chúa . /.