• Kính thưa đồng bào, quý chiến  hữu và quý vị,

    Nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam có thể tan rã bất cứ lúc nào trong tương lai. Thời thế cho phép chúng ta suy diễn như thế.

    Tàu Cộng tan rã, Việt Cộng sẽ tan rã.

    Tàu Cộng sát nhập Việt Nam, Việt Cộng sẽ tan rã.

    Tàu Cộng đánh Việt Nam, Việt Cộng sẽ tan rã.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong (CPVNCHLV) kêu gọi toàn dân đoàn kết, đoàn ngũ hoá trong những tổ chức do CPVNCHLV đề ra để ứng phó hữu hiệu với thời cuộc và tránh nạn sứ quân.

    CPVNCHLV đã tạo ra khoảng 250 trang và 750 nhóm cho chính quyền trung ương và chính quyền địa phương các cấp thuộc nhiều lãnh vực khác nhau. Mục đích là để cho người dân trong nước cũng như ở hải ngoại có thể tham gia kế hoạch đoàn ngũ hoá trong lãnh vực thích hợp một cách mau lẹ.

    Tàu Cộng có thể áp lực lãnh đạo ĐCSVN chỉ đạo quốc hội bù nhìn thông qua nghị quyết xin sát nhập Việt Nam vào Tàu. Tàu sẽ cai trị trực tiếp Việt Nam. Lãnh đạo cao cấp Việt Cộng sẽ bay đi ngoại quốc.

    Nguỵ quyền Việt Cộng sẽ tháo chạy và tan rã khi Tàu đánh Việt Nam.

    Người dân Việt không thể phản kháng hữu hiệu nếu không liên kết nỗ lực trong tổ chức.

    Không thể có tổ chức đối lập trong xã hội độc tài đảng trị như Việt Nam. Càng không thể có tổ chức đối kháng.

    Người dân chỉ có thể tin tưởng vào tổ chức có đường lối đúng đắn, công khai minh bạch và lãnh đạo đáng tin cậy.

    Tổ chức như vậy chỉ có thể hiện hữu ở hải ngoại và chỉ có thể mang danh là chính phủ lưu vong.

    Để hoạt động hữu hiệu, thành viên trong nước phải bí mật và thành viên hải ngoại phải công khai.

    Thành viên hải ngoại phải công khai thì mới có thể làm cho thành viên trong nước tin tưởng được.

    Người bí mật khó có thể làm cho người khác tin tưởng mà hợp tác trong lãnh vực chính trị.

    Xin quý vị hãy chung tay phổ biến những trang nhóm của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong tới càng nhiều người càng tốt, đặc biệt là những người quan tâm đến sự tồn vong của Quốc Gia Dân Tộc.

    Cùng nhau, chúng ta sẽ giải cứu Dân Nước thoát Cộng thoát Tàu!

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    9/2/2025

  • Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong Là Gì?

    Kính thưa quý vị,

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong là một tổ chức chính trị dân sự, bất bạo động, chính danh, và hợp pháp.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong có mục đích phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà để giải cứu Quốc Gia Dân Tộc thoát nạn Cộng Sản độc tài và thoát nạn Tàu Cộng bành trướng.

    Hoạt động chính yếu của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong bao gồm nhận đóng góp tài chánh và giúp thành lập chính quyền trung ương và chính quyền địa phương để thay thế nhà cầm quyền Cộng Sản tan rã. Bằng cách này, loạn đa sứ quân có thể tránh được.

    Thế giới dân chủ sẽ đánh bại thế giới độc tài không bao lâu nữa.

    Hãy tìm đến với nhau để chung tay xây đắp tự do, dân chủ, nhân quyền, phồn thịnh, và độc lập cho Việt Nam!

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    Phone: 408-623-1814

    Email: nguyenthequang1958cpvnchlv@gmail.com

    Postal mail: 1165 Barrington Ct San Jose CA 95121 USA

    18/8/2024

    Đặc tính của thành viên

    Thành viên Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong (CPVNCHLV) là người có lý tưởng chống Cộng bằng phương thức phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà, sẵn sàng đóng góp và hy sinh tiền bạc, thời gian, trí óc, công sức, tính tự ái vặt, tính tự phụ vô lý, và cả mạng sống của mình nếu cần.

    Kính thưa đồng bào và quý vị,

    Xin quý vị hãy tự tổ chức lấy trong địa phương của mình 3 nhóm: Hội Đồng, Cảnh Sát, và Địa Phương Quân, theo như hướng dẫn của CPVNCHLV.

    Những trang nhóm đưa ra chính yếu chỉ là để làm mẫu. Do đó, ghi danh tham gia những nhóm tôi đưa ra chỉ là thực tập thôi.

    Những nhóm bí mật phải là những nhóm mà quý vị lập ra ít ai biết.

    Xin quý vị hãy tự tổ chức lấy trong địa phương của mình, theo như hướng dẫn của CPVNCHLV.

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    22/9/2024

  • Quốc Hội Lập Hiến Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng 3 năm 1967

    LỜI MỞ ĐẦU

    Tin tưởng rằng lòng ái quốc, chí quật cường, truyền thống đấu tranh của dân tộc bảo đảm tương lai huy hoàng của đất nước.

    Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy trách nhiệm trước lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể Cộng Hòa của Dân, do Dân và vì Dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm độc lập, tự do, dân chủ trong công bằng bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.

    Chúng tôi, 117 Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến, đại diện nhân dân Việt Nam, sau khi thảo luận, chấp thuận bản Hiến Pháp sau đây:

    CHƯƠNG I

    ĐIỀU KHOẢN CĂN BẢN

    Điều 1

    1. Việt Nam là một nước Cộng Hòa, độc lập, thống nhất lãnh thổ bất khả phân.

    2. Chủ quyền Quốc gia thuộc về toàn dân.

    Điều 2

    1. Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của mọi công dân.

    2. Quốc gia chủ trương sự bình đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào Thiểu số được đặc biệt nâng đỡ để theo kịp đà tiến hóa chung của dân tộc.

    3. Mọi công dân đều có nghĩa vụ góp phần phục vụ quyền lợi Quốc gia dân tộc.

    Điều 3

    Ba cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản tự do, dân chủ và công bằng xã hội.

    Điều 4

    1. Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa Cộng Sản dưới mọi hình thức.

    2. Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa Cộng Sản đều bị cấm chỉ.

    Điều 5

    1. Việt Nam Cộng Hòa chập nhận các nguyên tắc Quốc Tế Pháp không trái với chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.

    2. Việt Nam Cộng Hòa cương quyết chống lại mọi hình thức xâm lược và nỗ lực góp phần xây dựng nền an ninh và hòa bình thế giới.

    CHƯƠNG II

    QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CÔNG DÂN

    Điều 6

    1. Quốc gia tôn trọng nhân phẩm.

    2. Luật pháp bảo vệ tự do, sinh mạng, tài sản và danh dự của mọi công dân.

    Điều 7

    1. Quốc gia tôn trọng và bảo vệ quyền an toàn cá nhân và quyền biện hộ.

    2. Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ, nếu không có mệnh lệnh hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền luật định ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp.

    3. Bị can và thân nhân phải được thông báo tội trạng trong thời hạn luật định. Mọi sự câu lưu phải đặt dưới quyền kiểm soát của cơ quan tư pháp.

    4. Không ai có thể bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách thú tội.

    Sự nhận tội vì tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách không được coi là bằng chứng buộc tội.

    5. Bị can phải được xét xử công khai và mau chóng.

    6. Bị can có quyền được luật sư biện hộ dự kiến trong mọi giai đoạn thẩm vấn kể cả trong cuộc điều tra sơ vấn.

    7. Bị can về các tội tiểu hình, chưa có tiền án quá 3 tháng tù về các tội phạm cố ý, có thể được tại ngoại hầu tra nếu có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn. Nữ bị can về các tội tiểu hình, có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn, có thể được tại ngoại hầu tra, nếu có thai trên 3 tháng.

    8. Bị can được suy đoán là vô tội cho đến khi bản án xác nhận tội trạng trở thành nhứt định.

    Sự nghi vấn có lợi cho bị can.

    9. Bị can bị bắt giữ oan ức, sau khi được tuyên bố vô tội, có quyền đòi Quốc gia bồi thường thiệt hại trong những điều kiện luật định.

    10. Không ai có thể bị câu thúc thân thể vì thiếu nợ.

    Điều 8

    1. Đời tư, nhà cửa và thư tín của công dân phải được tôn trọng.

    2. Không ai được quyền xâm nhập, khám xét nơi cư trú và tịch thâu đồ vật của người dân, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi cần bảo vệ an ninh và trật tự công cộng trong phạm vi luật định.

    3. Luật pháp bảo vệ tính cách riêng tư của thư tín; những hạn chế, nếu có phải do một đạo luật qui định.

    Điều 9

    1. Quốc gia tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do truyền giáo và hành đạo của mọi công dân miễn là không xâm phạm đến quyền lợi Quốc gia, không phương hại đến an ninh trật tự công cộng và không trái với thuần phong mỹ tục.

    2. Quốc gia không thừa nhận một tôn giáo nào là quốc giáo. Quốc gia vô tư đối với sự phát triển các tôn giáo.

    Điều 10

    1. Quốc gia công nhận quyền tự do giáo dục.

    2. Nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí.

    3. Nền giáo dục đại học được tự trị.

    4. Những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.

    5. Quốc gia khuyến khích và nâng đỡ các công dân trong việc nghiên cứu và sáng tác về khoa học, văn học và nghệ thuật.

    Điều 11

    1. Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.

    2. Một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục.

    Điều 12

    1. Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền nầy không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục.

    2. Chế độ kiểm duyệt không được chấp nhận, ngoại trừ các bộ môn điện ảnh và kịch trường.

    3. Một đạo luật sẽ ấn định qui chế báo chí.

    Điều 13

    1. Mọi công dân đều có quyền tự do hội họp và lập hội trong phạm vi luật định.

    2. Mọi công dân đều có quyền bầu cử, ứng cử và tham gia công vụ trên căn bản bình đẳng theo điều kiện và thể thức luật định.

    3. Quốc gia tôn trọng các quyền chính trị của mọi công dân kể cả quyền tự do thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai bất bạo động và hợp pháp.

    Điều 14

    Mọi công dân đều có quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại và hồi hương ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do y tế, an ninh và quốc phòng.

    Điều 15

    1. Mọi công dân đều có quyền, có bổn phận làm việc và được hưởng thù lao tương xứng để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.

    2. Quốc gia nổ lực tạo công việc làm cho mọi công dân.

    Điều 16

    Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được tôn trọng trong phạm vi và thể thức luật định.

    Điều 17

    1. Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, săn sóc sản phụ và hài nhi.

    2. Hôn nhân được đặt căn bản trên sự ưng thuận, sự bình đẳng và sự hợp tác giữa vợ chồng.

    3. Quốc gia tán trợ sự thuần nhất gia đình.

    Điều 18

    1. Quốc gia nỗ lực thiết lập chế độ an ninh xã hội.

    2. Quốc gia có nhiệm vụ thiết lập chế độ cứu trợ xã hội và y tế công cộng.

    3. Quốc gia có nhiệm vụ nâng đỡ đời sống tinh thần và vật chất của các chiến sĩ quốc gia, bảo trợ và dưỡng dục các quốc gia nghĩa tử.

    Điều 19

    1. Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu.

    2. Quốc gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân.

    3. Sở hữu chủ các tài sản bị truất hữu hoặc trưng dụng vì lý do công ích phải được bồi thường nhanh chóng và thoả đáng theo thời giá.

    Điều 20

    1. Quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh được công nhận nhưng không được hành xử để nắm giữ độc quyền, độc chiếm hay thao túng thị trường.

    2. Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác kinh tế có tính cách tương trợ.

    3. Quốc gia đặc biệt nâng đỡ những thành phần xã hội yếu kém về kinh tế.

    Điều 21

    Quốc gia chủ trương nâng cao đời sống nông dân và đặc biệt giúp đỡ nông dân có ruộng đất canh tác.

    Điều 22

    Trên nguyên tắc quân bình giữa nghĩa vụ và quyền lợi công nhân có quyền cử đại biểu tham gia quản trị xí nghiệp đặc biệt về những vấn đề liên quan đến lương bổng và điều kiện làm việc trong phạm vi và thể thức luật định.

    Điều 23

    1. Quân nhân đắc cử vào các chức vụ dân cử hay tham chính tại cấp bậc Trung ương phải được giải ngũ hay nghỉ giả hạn không lương, tùy theo sự lựa chọn của đương sự.

    2. Quân nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái.

    Điều 24

    1. Quốc gia công nhận sự hiện hữu của các sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam.

    2. Quốc gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào thiểu số. Các Tòa án phong tục phải được thiết lập để xét xử một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào thiểu số.

    3. Một đạo luật sẽ qui định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào thiểu số.

    Điều 25

    Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc và Chính thể Cộng Hòa.

    Điều 26

    Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Hiến pháp và tôn trọng luật pháp.

    Điều 27

    Mọi công dân đều có nghĩa vụ thi hành quân dịch theo luật định.

    Điều 28

    Mọi công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế theo luật định.

    Điều 29

    Mọi sự hạn chế các quyền công dân căn bản phải được qui định bởi một đạo luật có ấn định rõ phạm vi áp dụng trong thời gian và không gian. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, tính cách thiết yếu của các quyền công dân căn bản vẫn không được vi phạm.

    CHƯƠNG III

    LẬP PHÁP

    Điều 30

    Quyền lập pháp được quốc dân ủy nhiệm cho Quốc hội. Quốc hội gồm hai viện:

    — Hạ nghị viện và

    — Thượng nghị viện.

    Điều 31

    Hạ nghị viện gồm từ một trăm đến hai trăm Dân biểu:

    1. Dân biểu được bầu theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín, theo thể thức đơn danh, trong từng đơn vị lớn nhất là tỉnh.

    2. Nhiệm kỳ Dân biểu là bốn năm. Dân biểu có thể được tái cử.

    3. Cuộc bầu cử tân Hạ nghị viện sẽ được kết thúc chậm nhứt là một tháng trước khi pháp nhiệm cũ chấm dứt.

    Điều 32

    Được quyền ứng cử Dân biểu những công dân:

    1. Có Việt tịch từ khi mới sanh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất bảy năm, hoặc đã thủ đắc hoặc hồi phục Việt tịch ít nhất năm năm tính đến ngày bầu cử.

    2. Đủ hai mươi lăm tuổi tính đến ngày bầu cử.

    3. Được hưởng các quyền công dân.

    4. Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch.

    5. Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Dân biểu.

    Điều 33

    Thượng Nghị viện gồm từ ba mươi đến sáu mươi Nghị sĩ.

    1. Nghị sĩ được cử tri toàn quốc bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức liên danh đa số. Mỗi liên danh gồm từ một phần sáu đến một phần ba tổng số Nghị sĩ.

    2. Nhiệm kỳ Nghị sĩ là sáu năm, mỗi ba năm bầu lại phân nửa. Nghị sĩ có thể được tái cử.

    3. Các Nghị sĩ trong pháp nhiệm đầu tiên sẽ được chia làm hai nhóm đều nhau theo thể thức rút thăm. Nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ sáu năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ ba năm.

    4. Cuộc bầu cử các tân Nghị sĩ phải được tổ chức chậm nhất là một tháng trước khi phân nửa tổng số Nghị sĩ chấm dứt pháp nhiệm.

    Điều 34

    Được quyền ứng cử Nghị sĩ những công dân đủ ba mươi tuổi tính đến ngày bầu cử, hội đủ các điều kiện dự liệu trong đạo luật bầu cử Nghị sĩ và các điều kiện qui định ở điều 32.

    Điều 35

    1. Trong trường hợp khống khuyết Dân biểu vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức trong hạn 3 tháng, nếu sự khống khuyết xảy ra trên hai năm trước ngày chấm dứt pháp nhiệm.

    2. Trong trường hợp khống khuyết Nghị sĩ vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức chung với cuộc bầu cử phân nữa tổng số Nghị sĩ gần nhứt.

    Điều 36

    Các thể thức và điều kiện ứng cử, bầu cử Dân biểu và Nghị sĩ, kể cả Dân biểu đồng bào thiểu số, sẽ do những đạo luật qui định.

    Điều 37

    1. Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu hay Nghị sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc hội.

    2. Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu hay Nghị sĩ, nếu không có sự chấp thuận của ba phần tư tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ.

    3. Trong trường hợp quả tang phạm pháp, sự truy tố hay bắt giam sẽ được đình chỉ nếu có sự yêu cầu của Viện sở quan.

    4. Dân biểu và Nghị sĩ có quyền bảo mật về xuất xứ các tài liệu trình bày trước Quốc hội.

    5. Dân biểu và Nghị sĩ không thể kiêm nhiệm một chức vụ công cử hay dân cử nào khác.

    6. Dân biểu và Nghị sĩ có thể phụ trách giảng huấn tại các trường Đại học và Cao đẳng Kỹ thuật.

    7. Dân biểu, Nghị sĩ và người hôn phối không thể tham dự những cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.

    Điều 38

    1. Trong trường hợp can tội phản quốc hay các trọng tội khác, dân biểu hay Nghị sĩ có thể bị Viện sở quan truất quyền.

    2. Sự truất quyền phải được hai phần ba tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ đề nghị.

    3. Quyết định truất quyền phải được ba phần tư tổng số Dân biểu hay nghị sĩ chấp thuận.

    4. Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truất quyền.

    Điều 39

    Quốc hội có thẩm quyền:

    1. Biểu quyết các đạo luật.

    2. Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế.

    3. Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa.

    4. Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh.

    5. Kiểm soát Chánh phủ trong việc thi hành chánh sách quốc gia.

    6. Trong phạm vi mỗi Viện, quyết định hợp thức hóa sự đắc cử của các Dân biểu hay Nghị sĩ.

    Điều 40

    1. Mỗi Viện, với một phần ba tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ có quyền yêu cầu Thủ Tướng hay các Nhân viên Chánh phủ ra trước Viện sở quan để trả lời các câu chất vấn về sự thi hành chánh sách quốc gia.

    2. Chủ tịch Ủy ban của mỗi Viện có quyền yêu cầu các nhân viên Chánh phủ tham dự các phiên họp của Ủy ban để trình bày về các vấn đề liên quan đến Bộ sở quan.

    Điều 41

    Thượng Nghị viện có quyền mở cuộc điều tra về sự thi hành chánh sách quốc gia và yêu cầu các cơ quan công quyền xuất trình các tài liệu cần thiết cho cuộc điều tra này

    Điều 42

    1. Quốc hội có quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chánh phủ với đa số hai phần ba tổng số Dân biểu và Nghị sĩ.

    2. Nếu Tổng Thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực.

    3. Trong trường hợp Tổng Thống khước từ, Quốc hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu và Nghị sĩ. Sự khuyến cáo sau này của Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày chung quyết.

    Điều 43

    1. Dân biểu và Nghị sĩ có quyền đề nghị các dự án luật.

    2. Tổng Thống có quyền đề nghị các dự thảo luật.

    3. Các dự án luật và dự thảo luật, gọi chung là dự luật phải được đệ nạp tại Văn phòng Hạ nghị viện.

    4. Trong mọi trường hợp Hạ nghị viện chấp thuận hoặc bác bỏ một dự luật, Viện này đều chuyển dự luật sang văn phòng Thượng nghị viện trong thời hạn ba ngày tròn.

    5. Nếu Thượng nghị viện đồng quan điểm với Hạ nghị viện, dự luật hoặc sẽ được chuyển đến Tổng Thống để ban hành hoặc sẽ bị bác bỏ.

    6. Nếu Thượng nghị viện không đồng quan điểm với Hạ nghị viện, dự luật sẽ được gửi về Văn phòng Hạ nghị viện trong thời hạn ba ngày tròn, kèm theo quyết nghị có viện dẫn lý do.

    7. Trong trường hợp sau này, Hạ nghị viện có quyền chung quyết dự luật với đa số hai phần ba tổng số Dân biểu.

    8. Nếu Hạ nghị viện không hội đủ đa số hai phần ba nói trên, quan điểm của Thượng nghị viện được coi là chung quyết.

    9. Thời gian thảo luận và biểu quyết một dự luật tại Thượng nghị viện chỉ có thể bằng phân nửa thời gian thảo luận và biểu quyết tại Hạ nghị viện. Thời gian thảo luận và chung quyết một dự luật tại Hạ nghị viện chỉ có thể gấp đôi thời gian thảo luận và biểu quyết tại Thượng nghị viện.

    Điều 44

    1. Các dự luật được Quốc hội chung quyết sẽ được chuyển sang Tổng Thống trong thời hạn ba ngày tròn.

    2. Thời gian ban hành là mười lăm ngày tròn kể từ ngày Tổng thống tiếp nhận dự luật.

    3. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội thẩm định, thời hạn ban hành là bảy ngày tròn.

    4. Nếu Tổng Thống không ban hành trong các thời hạn kể trên, dự luật đã được Quốc hội biểu quyết đương nhiên thành luật và sẽ được Chủ tịch Thượng nghị viện ban hành.

    Điều 45

    1. Trong thời hạn ban hành, Tổng Thống có quyền gửi Thông điệp có viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản của dự luật.

    2. Trong trường hợp nầy, Quốc hội sẽ họp khoáng đại lưỡng viện để chung quyết dự luật với đa số quá bán tổng số Dân biểu và Nghị sĩ. Nếu Quốc hội chung quyết bác bỏ lời yêu cầu phúc nghị của Tổng Thống, dự luật đương nhiên thành luật và được chuyển sang Tổng Thống để ban hành.

    Điều 46

    1. Dự thảo ngân sách được đệ nạp tại Văn phòng Hạ nghị viện trước ngày ba mươi tháng chín.

    2. Dân biểu và Nghị sĩ có quyền đề nghị các khoản chi mới nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.

    3. Hạ nghị viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi tháng mười một và chuyển bản văn đã được chấp thuận đến Văn phòng Thượng nghị viện chậm nhất là ngày một tháng mười hai.

    4. Thượng nghị viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi mốt tháng mười hai.

    5. Trong thời hạn nói trên, nếu Thượng nghị viện yêu cầu Hạ nghị viện phúc nghị một hay nhiều điều khoản trong dự thảo ngân sách, thủ tục qui định tại điều 43 phải được áp dụng. Trường hợp này, Tổng Thống có quyền ký sắc luật cho thi hành từng phần ngân sách tương đương với một phần mười hai ngân sách thuộc tài khoá trước, cho đến khi Hạ nghị viện chung quyết xong dự thảo ngân sách.

    Điều 47

    1. Mỗi viện họp những khóa thường lệ và những khóa bất thường.

    2. Hằng năm mỗi Viện họp hai khóa thường lệ; một khóa họp bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, một khóa họp bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng mười dương lịch.

    Mỗi khóa họp thường lệ không thể lâu quá chín mươi ngày. Tuy nhiên Hạ nghị viện có thể triển hạn khóa họp để chung quyết dự thảo ngân sách.

    3. Mỗi Viện có thể triệu tập các khóa họp bất thường khi có sự yêu cầu của Tổng Thống hoặc một phần ba tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ. Nếu khóa họp bất thường do Tổng Thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp do Tổng Thống ấn định.

    Điều 48

    1. Quốc hội họp công khai trừ khi quá bán tổng số Dân biểu hay Nghị sĩ hiện diện yêu cầu họp kín.

    2. Trong các phiên họp công khai, biên bản tường thuật toàn vẹn cuộc thảo luận và các tài liệu trình bày tại Quốc hội sẽ được đăng trên công báo.

    Điều 49

    1. Mỗi Viện bầu Chủ tịch và các nhân viên Văn phòng.

    2. Mỗi Viện thành lập các Ủy ban thường trực và các Ủy ban đặc biệt.

    3. Mỗi Viện trọn quyền ấn định nội quy.

    4. Văn phòng hai Viện ấn định thủ tục liên lạc và sinh hoạt giữa hai Viện.

    Điều 50

    1. Chủ tịch Thượng nghị viện triệu tập và chủ tọa các phiên họp khoáng đại lưỡng Viện.

    2. Trường hợp Chủ tịch Thượng nghị viện bị ngăn trở Chủ tịch Hạ nghị viện sẽ thay thế Chủ tịch Thượng nghị viện trong nhiệm vụ này.

    CHƯƠNG IV

    HÀNH PHÁP

    Điều 51

    Quyền Hành Pháp được quốc dân ủy nhiệm cho Tổng Thống.

    Điều 52

    1. Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.

    2. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là bốn năm. Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử một lần.

    3. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ bốn mươi tám kể từ ngày nhậm chức, và nhiệm kỳ của tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lúc ấy.

    4. Cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày Chúa nhật, bốn tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt.

    Điều 53

    Được quyền ứng cử Tổng Thống hoặc Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:

    1. Có Việt tịch từ khi mới sanh và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười năm tính đến ngày bầu cử.

    — Thời gian công cán và lưu vong chính trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà.

    2. Đủ 35 tuổi tính đến ngày bầu cử.

    3. Được hưởng các quyền công dân.

    4. Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch.

    5. Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống.

    Điều 54

    1. Tối cao Pháp viện lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức của cuộc bầu cử và tuyên bố kết quả.

    2. Các ứng cử viên được hưởng đồng đều phương tiện trong cuộc vận động tuyển cử.

    3. Một đạo luật sẽ qui định thể thức ứng cử và bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống.

    Điều 55

    Khi nhậm chức, Tổng Thống tuyên thệ trước quốc dân với sự chứng kiến của Tối cao Pháp viện và Quốc hội: « Tôi long trọng tuyên thệ trước quốc dân sẽ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, phục vụ quyền lợi Quốc gia dân tộc và tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa. »

    Điều 56

    1. Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những trường hợp:

    a) Mệnh chung

    b) Từ chức

    c) Bị truất quyền.

    d) Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu và Nghị sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.

    2. Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng Thống chấm dứt trên một năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống trong thời hạn ba tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống cho nhiệm kỳ mới.

    3. Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt dưới một năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống đến hết nhiệm kỳ, ngoại trừ trường hợp Tổng Thống bị truất quyền.

    4. Nếu vì một lý do gì, Phó Tổng Thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống, Chủ tịch Thượng nghị viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống.

    Điều 57

    Tổng Thống ban hành các đạo luật trong thời hạn quy định ở điều 44.

    Điều 58

    1. Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng; theo đề nghị của Thủ Tướng, Tổng Thống bổ nhiệm các nhân viên Chánh Phủ.

    2. Tổng Thống có quyền cải tổ toàn bộ hay một phần Chánh phủ, hoặc tự ý, hoặc sau khi có khuyến cáo của Quốc hội.

    Điều 59

    1. Tổng Thống bổ nhiệm với sự chấp thuận của Thượng nghị viện:

    a) Các Trưởng nhiệm sở Ngoại giao.

    b) Viện trưởng các Viện Đại học.

    2. Tổng Thống thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao.

    3. Tổng Thống ký kết và sau khi được Quốc hội phê chuẩn ban hành các Hiệp ước và Hiệp định Quốc tế.

    Điều 60

    Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Điều 61

    1. Tổng Thống ban các loại huy chương.

    2. Tổng Thống có quyền ân xá, và ân giảm hình phạt các phạm nhân.

    Điều 62

    1. Tổng Thống hoạch định chánh sách Quốc gia.

    2. Tổng Thống chủ tọa Hội đồng Tổng trưởng.

    Điều 63

    1. Tổng Thống tiếp xúc với Quốc hội bằng Thông điệp. Vào mỗi khóa họp thường lệ và mỗi khi thấy cần, Tổng Thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chánh phủ.

    2. Thủ Tướng và các nhân viên Chánh phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc hội hoặc của các Ủy ban để trình bày và giải thích về các vấn đề liên quan đến chánh sách Quốc gia, và sự thi hành chánh sách Quốc gia.

    Điều 64

    1. Trong các trường hợp đặc biệt, Tổng Thống có thể ký sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay toàn lãnh thổ.

    2. Quốc hội phải được triệu tập chậm nhất mười hai ngày kể từ ngày ban hành sắc luật để phê chuẩn, sửa đổi hoặc bãi bỏ.

    3. Trong trường hợp Quốc Hội bãi bỏ hoặc sửa đổi sắc luật của Tổng Thống, các tình trạng đặc biệt đã được ban hành sẽ chấm dứt hoặc thay đổi hiệu lực.

    Điều 65

    Trong tình trạng chiến tranh không thể tổ chức bầu cử được với sự chấp thuận của hai phần ba tổng số Dân biểu và Nghị sĩ, Tổng Thống có quyền lưu nhiệm một số các cơ quan dân cử và bổ nhiệm một số Tỉnh trưởng.

    Điều 66

    1. Phó Tổng Thống là Chủ tịch Hội đồng Văn hóa Giáo dục, Hội đồng Kinh tế xã hội và Hội đồng các Sắc tộc Thiểu số.

    2. Phó Tổng Thống không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào khác trong Chánh phủ.

    Điều 67

    1. Thủ Tướng điều khiển Chánh phủ và các cơ cấu hành chánh Quốc gia.

    2. Thủ Tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chánh sách Quốc gia trước Tổng Thống.

    Điều 68

    1. Tổng Thống, Phó Tổng Thống và các nhân viên Chánh phủ không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào thuộc lãnh vực tư, dù có thù lao hay không.

    2. Trong mọi trường hợp, người hôn phối của các vị này không được tham dự các cuộc đấu thầu hoặc kết ước với các cơ quan chánh quyền.

    Điều 69

    1. Hội đồng An ninh Quốc gia có nhiệm vụ:

    — Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng.

    — Đề nghị các biện pháp thích ứng để duy trì an ninh Quốc gia.

    — Đề nghị tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm, khẩn trương hoặc chiến tranh.

    — Đề nghị tuyên chiến hay nghị hòa.

    2. Tổng Thống là Chủ tịch Hội đồng an ninh Quốc gia.

    3. Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng an ninh Quốc gia.

    Điều 70

    1. Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như: phường/xã/thị trấn, quận/huyện/thị xã/thành phố cấp huyện, tỉnh/thành phố cấp tỉnh/thủ đô.

    2. Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành nền hành chánh địa phương.

    Điều 71

    1. Các cơ quan quyết nghị và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành các tập thể địa phương phân quyền sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín.

    2. Riêng ở cấp xã, xã trưởng có thể do Hội đồng Xã bầu lên trong số các hội viên Hội đồng xã.

    Điều 72

    Các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền là:

    — Xã/Phường/Thị trấn trưởng ở cấp xã.

    — Quận/Huyện/Thị trưởng ở cấp huyện.

    — Tỉnh trưởng ở cấp tỉnh

    — Thị trưởng ở thành phố cấp tỉnh, Đô trưởng ở thủ đô.

    Điều 73

    Các cơ quan quyết nghị của các tập thể địa phương phân quyền là:

    — Hội đồng xã/phường/thị trấn ở cấp xã.

    — Hội đồng quận/huyện/thị xã ở cấp huyện.

    — Hội đồng tỉnh ở cấp tỉnh, (Hội đồng thành phố cấp tỉnh, Hội đồng Đô thành ở Thủ đô).

    Điều 74

    Chánh phủ bổ nhiệm bên cạnh các Tỉnh/Đô/Thị trưởng, Quận/Huyện/Thị trưởng, Xã/Phường/Thị trấn trưởng hai viên chức có nhiệm vụ phụ tá về hành chánh và an ninh cùng các nhân viên hành chánh khác.

    Điều 75

    Nhân viên các cơ quan quyết nghị và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền có thể bị Tổng Thống giải nhiệm trong trường hợp vi phạm Hiến pháp, luật pháp Quốc gia hay chánh sách Quốc Gia.

    CHƯƠNG V

    TƯ PHÁP

    Điều 76

    1. Quyền Tư pháp độc lập, được ủy nhiệm cho Tối Cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm phán xử án.

    2. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành ngành Tư pháp.

    Điều 77

    Mọi Tòa án phải do một đạo luật thiết lập với một thành phần Thẩm phán xử án và Thẩm phán công tố chuyên nghiệp và theo một thủ tục tôn trọng quyền biện hộ.

    Điều 78

    1. Thẩm phán xử án và Thẩm phán công tố được phân nhiệm rõ rệt và có quy chế riêng biệt.

    2. Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm và pháp luật dưới sự kiểm soát của Tối Cao Pháp Viện.

    3. Thẩm phán Công tố theo dõi sự áp dụng luật pháp để bảo vệ trật tự công cộng dưới sự kiểm soát của Bộ Tư Pháp.

    Điều 79

    Thẩm phán xử án chỉ có thể bị giải nhiệm trong trường hợp bị kết án, vi phạm kỷ luật hay bất lực về tinh thần hoặc thể chất.

    Điều 80

    1. Tối cao Pháp viện gồm từ chín đến mười lăm Thẩm phán Tối Cao Pháp Viện do Quốc hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm theo một danh sách ba mươi người do thẩm phán đoàn, Công tố đoàn và Luật sư đoàn bầu lên.

    2. Thẩm phán Tối cao pháp viện phải là những Thẩm phán hay luật sư đã hành nghề ít nhất mười năm trong ngành Tư pháp.

    3. Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tối cao Pháp viện là sáu năm.

    4. Thành phần cử tri thuộc Thẩm phán đoàn, Công tố đoàn và Luật sư đoàn phải đồng đều.

    5. Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện.

    Điều 81

    1. Tối cao Pháp viện có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, phán quyết về tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật; tính cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh.

    2. Tối cao Pháp viện có thẩm quyền phán quyết về việc giải tán một chánh đảng có chủ trương và hành động chống lại chánh thể Cộng Hòa.

    3. Trong trường hợp này Tối Cao Pháp Viện sẽ họp khoáng đại toàn viện, các đại diện Lập Pháp hoặc Hành Pháp có thể tham dự để trình bày quan điểm.

    4. Những quyết định của Tối Cao Pháp Viện tuyên bố một đạo luật bất hợp hiến hoặc giải tán một chánh đảng phải hội đủ đa số ba phần tư tổng số Thẩm phán Tối Cao Pháp Viện.

    Điều 82

    Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về các vụ thượng tố các bản án chung thẩm.

    Điều 83

    Tối cao Pháp viện có ngân sách tự trị và có quyền lập quỹ để quản trị ngành Tư Pháp.

    Điều 84

    Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ:

    1. Đề nghị bổ nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển và chế tài về kỷ luật các Thẩm phán xử án.

    2. Cố vấn Tối Cao Pháp Viện về các vấn đề liên quan đến ngành Tư pháp.

    3. Hội đồng Thẩm phán gồm các Thẩm phán xử án do các Thẩm Phán xử án bầu lên.

    4. Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Thẩm phán.

    CHƯƠNG VI

    CÁC ĐỊNH CHẾ ĐẶC BIỆT

    Đặc Biệt Pháp Viện

    Điều 85

    Đặc biệt pháp viện có thẩm quyền truất quyền Tổng Thống, phó Tổng Thống, Thủ Tướng, các Tổng Bộ trưởng, các Thẩm phán Tối cao Pháp viện và các Giám sát viên trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác.

    Điều 86

    1. Đặc biệt Pháp viện do Chủ tịch Tối cao Pháp viện giữ chức Chánh thẩm và gồm năm Dân biểu và năm Nghị sĩ.

    2. Khi Chủ tịch Tối cao Pháp viện là bị can, Chủ tịch Thượng nghị viện giữ chức Chánh thẩm.

    Điều 87

    1. Đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được quá bán tổng số Dân biểu và Nghị sĩ ký tên. Quyết nghị khởi tố phải được đa số hai phần ba tổng số Dân biểu và Nghị sĩ biểu quyết chấp thuận.

    Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được hai phần ba tổng số dân biểu và Nghị sĩ ký tên.

    Quyết định khởi tố phải được đa số ba phần tư tổng số Dân biểu và Nghị sĩ biểu quyết chấp thuận.

    2. Đương sự phải đình chỉ nhiệm vụ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tố đến khi Đặc biệt pháp viện phán quyết.

    3. Đặc biệt Pháp viện phán quyết truất quyền theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên. Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống, phán quyết truất quyền theo đa số bốn phần năm tổng số nhân viên.

    4. Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truy tố.

    5. Sau khi bị truất quyền đương sự có thể bị truy tố trước các Tòa án có thẩm quyền.

    6. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức, điều hành và thủ tục trước Đặc biệt Pháp viện.

    Giám Sát Viện

    Điều 88

    Giám Sát Viện có thẩm quyền:

    1. Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân, đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi Quốc gia.

    2. Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và hợp doanh.

    3. Kiểm kê tài sản các nhân viên các cơ quan công quyền kể cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Dân biểu, Nghị sĩ, Chủ tịch Tối cao Pháp viện.

    4. Riêng đối với Chủ tịch Giám sát Viện và các Giám sát viên, việc kiểm kê tài sản do Tối cao Pháp viện đảm trách.

    Điều 89

    1. Giám sát Viện có quyền đề nghị các biện pháp chế tài về kỷ luật đối với nhân viên phạm lỗi hoặc yêu cầu truy tố đương sự ra trước tòa án có thẩm quyền.

    2. Giám sát Viện có quyền công bố kết quả cuộc điều tra.

    Điều 90

    1. Giám sát Viện gồm từ chín đến mười tám Giám sát viên, một phần ba do Quốc hội, một phần ba do Tổng Thống và một phần ba do Tối cao pháp viện chỉ định.

    2. Giám sát viên được hưởng những quyền hạn và bảo đảm cần thiết để thi hành nhiệm vụ.

    Điều 91

    Giám sát Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập quỹ để tổ chức nội bộ và quản trị ngành giám sát.

    Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Giám sát Viện.

    Hội Đồng Quân Lực

    Điều 92

    1. Hội đồng Quân lực cố vấn Tổng Thống về các vấn đề liên quan đến Quân lực, đặc biệt là việc thăng thưởng, thuyên chuyển và trừng phạt quân nhân các cấp.

    2. Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng Quân lực.

    Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục

    Điều 93

    1. Hội đồng Văn hóa giáo dục có nhiệm vụ cố vấn Chánh phủ soạn thảo và thực thi chánh sách Văn hóa giáo dục.

    Một Hàn lâm viện Quốc gia sẽ được thành lập.

    2. Với sự chấp thuận của Quốc hội, Hội đồng Văn hóa giáo dục có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc hội về các vấn đề liên hệ.

    3. Các dự luật liên quan đến Văn hóa giáo dục có thể được Hội đồng tham gia ý kiến trước khi Quốc hội thảo luận.

    Điều 94

    1. Hội đồng Văn hóa giáo dục gồm:

    — Một phần ba hội viên do Tổng Thống chỉ địhn.

    — Hai phần ba hội viên do các tổ chức Văn hóa giáo dục công và tư, các Hiệp hội phụ huynh học sinh đề cử.

    2. Nhiệm kỳ của Hội đồng Văn hóa giáo dục là bốn năm.

    3. Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng Văn hóa giáo dục.

    HỘI ĐỒNG KINH TẾ XÃ HỘI

    Điều 95

    1. Hội đồng Kinh tế xã hội có nhiệm vụ cố vấn Chánh phủ về những vấn đề kinh tế và xã hội.

    2. Với sự chấp thuận của Quốc hội, Hội đồng Kinh tế xã hội có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc hội về các vấn đề liên hệ.

    3. Các dự luật kinh tế và xã hội có thể được Hội đồng kinh tế xã hội tham gia ý kiến trước khi Quốc hội thảo luận.

    Điều 96

    1. Hội đồng Kinh tế xã hội gồm:

    — Một phần ba hội viên do Tổng Thống chỉ định.

    — Hai phần ba hội viên do các tổ chức công kỹ nghệ, thương mại, nghiệp đoàn, các hiệp hội có tính cách kinh tế và xã hội đề cử.

    2. Nhiệm kỳ Hội đồng Kinh tế xã hội là bốn năm.

    3. Một đạo luật sẽ quy định sự tổ chức và điều hành Hội đồng Kinh tế xã hội.

    Hội Đồng các Sắc Tộc

    Điều 97

    1. Hội đồng các Sắc tộc đại diện các Sắc tộc thiểu số sống trên lãnh thổ Việt Nam có nhiệm vụ cố vấn Chánh phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào thiểu số.

    2. Với sự chấp thuận của Quốc hội, Hội Đồng các Sắc tộc có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc hội về các vấn đề liên hệ.

    3. Các dự luật liên quan đến đồng bào thiểu số có thể được Hội đồng các Sắc tộc tham gia ý kiến trước khi đưa ra Quốc hội thảo luận.

    Điều 98

    1. Hội đồng các Sắc tộc gồm có:

    — Một phần ba hội viên do Tổng Thống chỉ định.

    — Hai phần ba hội viên do các Sắc tộc thiểu số đề cử.

    2. Nhiệm kỳ Hội đồng các Sắc tộc là 4 năm.

    3. Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội đồng các Sắc tộc.

    CHƯƠNG VII

    CHÁNH ĐẢNG VÀ ĐỐI LẬP

    Điều 99

    1. Quốc gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ.

    2. Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định.

    Điều 100

    Quốc gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng.

    Điều 101

    Quốc gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị.

    Điều 102

    Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị.

    CHƯƠNG VIII

    TU CHÍNH HIẾN PHÁP

    Điều 103

    1. Tổng Thống, quá bán tổng số Dân biểu hay quá bán tổng số Nghị sĩ có quyền đề nghị tu chính Hiến pháp

    2. Đề nghị phải viện dẫn lý do và được đệ nạp tại Văn phòng Thượng nghị viện.

    Điều 104

    Một uỷ ban lưỡng viện sẽ được thành lập để nghiên cứu về đề nghị tu chính Hiến pháp và thuyết trình trong những phiên họp khoáng đại lưỡng viện.

    Điều 105

    Quyết định tu chính Hiến pháp phải hội đủ hai phần ba tổng số Dân biểu và Nghị sĩ.

    Điều 106

    Tổng Thống ban hành đạo luật tu chính Hiến pháp theo thủ tục quy định ở điều 44.

    Điều 107

    Không thể huỷ bỏ hoặc tu chính điều một và điều này của Hiến pháp.

    CHƯƠNG IX

    CÁC ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP

    Điều 108

    Hiến pháp bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày ban hành và Ước pháp tạm thời ngày mười chín tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm đương nhiên hết hiệu lực.

    Điều 109

    Trong thời gian chuyển tiếp, Quốc hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu đại diện Quốc dân trong phạm vi Lập pháp:

    1. Soạn thảo và chung quyết:

    — Các đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống, Thượng nghị viện, Hạ nghị viện.

    — Các đạo luật tổ chức Tối cao Pháp viện và Giám sát Viện.

    — Các quy chế chánh đảng và báo chí.

    2. Phê chuẩn các Hiệp ước.

    Điều 110

    Kể từ khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một nhậm chức, Quốc hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một nghìn chín trăm sáu mươi sáu đảm nhiệm quyền Lập pháp cho đến khi Quốc hội pháp nhiệm một được triệu tập.

    Điều 111

    Trong thời gian chuyển tiếp, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và Ủy ban Hành pháp Trung ương lưu nhiệm cho đến khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một nhậm chức.

    Điều 112

    Trong thời gian chuyển tiếp, các Tòa án hiện hữu vẫn tiếp tục hành xử quyền Tư pháp cho đến khi các định chế Tư pháp quy định trong Hiến pháp này được thành lập.

    Điều 113

    Quốc hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một nghìn chín trăm sáu mươi sáu sẽ lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tính cách hợp thức và tuyên bố kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một.

    Điều 114

    Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng Thống có thể bổ nhiệm các Tỉnh Trưởng.

    Điều 115

    Cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống phải được tổ chức chậm nhất sáu tháng kể từ ngày ban hành Hiến pháp này.

    Điều 116

    Cuộc bầu cử Quốc hội Lập pháp, việc tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám sát Viện phải được thực hiện chậm nhất là mười hai tháng kể từ ngày Tổng Thống nhiệm kỳ một nhậm chức.

    Điều 117

    Các cơ cấu khác do Hiến Pháp quy định phải được thiết lập chậm nhất là hai năm kể từ ngày Quốc Hội Pháp Nhiệm Một được thành lập.

  • Quốc Hội Lập Hiến Việt Nam Cộng Hòa chung quyết trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956

    LỜI MỞ ĐẦU

    Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;

    Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;

    Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;

    Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:

    Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan;

    Nguyện vọng ấy là:

    Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;

    Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;

    Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;

    Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;

    Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.

    Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:

    THIÊN THỨ NHẤT: Điều khoản căn bản

    Điều 1

    Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.

    Điều 2

    Chủ quyền thuộc về toàn dân.

    Điều 3

    Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.

    Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rõ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều hòa.

    Tổng thống lãnh đạo Quốc dân.

    Điều 4

    Hành pháp, lập pháp, tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ Tự do, Dân chủ, chính thể cộng hòa, và trật tự công cộng. Tư pháp phải có một quy chế bảo đảm tính cách độc lập.

    Điều 5

    Mọi người dân không phân biệt nam nữ sinh ra bình đẳng về phẩm cách, quyền lợi, và nhiệm vụ, và phải đối xử với nhau theo tinh thần tương thân tương trợ.

    Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của con người trong cương vị cá nhân, hay trong cương vị tập thể.

    Quốc gia cố gắng tạo cho mọi người những cơ hội đồng đều và những điều kiện cần thiết để thụ hưởng quyền lợi và thực hành nhiệm vụ.

    Quốc gia tán trợ sự khuếch trương kinh tế, phát huy văn hóa, khai triển khoa học và kỹ thuật.

    Điều 6

    Người dân có những nhiệm vụ đối với tổ quốc, với đồng bào, mục đích là để thực hiện sự phát triển điều hòa và đầy đủ nhân cách của mọi người.

    Điều 7

    Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thái đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.

    Điều 8

    Nước Việt Nam Cộng hòa chấp nhận những nguyên tắc quốc tế pháp không trái với sự thực hiện chủ quyền Quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc.

    Quốc gia cố gắng góp phần xây dựng và bảo vệ nền an ninh và hòa bình quốc tế cùng duy trì và phát triển sự liên lạc thân hữu giữa các dân tộc trên căn bản tự do và bình đẳng.

    THIÊN THỨ HAI: Quyền lợi và nhiệm vụ người Dân

    Điều 9

    Mọi người dân đều có quyền sinh sống tự do và an toàn.

    Điều 10

    Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ tù đày, một cách trái phép.

    Trừ trường hợp phạm pháp quả tang, chỉ có thể bắt giam khi có câu phiếu của cơ quan có thẩm quyền, trong trường hợp và theo hình thức luật định. Theo thể thức luật định các bị can về tội đại hình hoặc tiểu hình có quyền lựa chọn hoặc yêu cầu chỉ định người biện minh cho mình.

    Điều 11

    Không ai có thể bị tra tấn hoặc chịu những hình phạt hay những cách đối xử tàn bạo, bất nhân, hoặc làm mất phẩm cách.

    Điều 12

    Đời tư, gia đình, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.

    Tính cách riêng tư của thư tín không thể bị xâm phạm, trừ khi có lệnh của Tòa án hoặc khi bảo vệ an ninh công cộng hay duy trì trật tự chung.

    Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những đe dọa hoặc xâm phạm trái phép.

    Điều 13

    Mọi người dân có quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Quốc gia, ngoại trừ trường hợp luật pháp ngăn cấm vì duyên cơ vệ sinh hay an ninh công cộng.

    Mọi người dân có quyền tự do xuất ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do an ninh quốc phòng, kinh tế, tài chánh hay lợi ích công cộng.

    Điều 14

    Mọi người dân đều có quyền và có bổn phận làm việc. Việc làm như nhau, tiền công bằng nhau.

    Người làm việc có quyền hưởng thù lao xứng đáng đủ để bảo đảm cho bản thân và cho gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm.

    Điều 15

    Mọi người dân đều có quyền tự do tư tưởng và trong khuôn khổ luật định, có quyền tự do hội họp và lập hội.

    Điều 16

    Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể Cộng hòa.

    Mọi người dân đều được hưởng quyền tự do báo chí để tạo thành một dư luận xác thực và xây dựng mà Quốc gia có nhiệm vụ bảo vệ chống lại mọi hành vi xuyên tạc sự thực.

    Điều 17

    Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do hành giáo, và tự do truyền giáo, miễn là sử dụng quyền ấy không trái với luân lý và thuần phong mỹ tục.

    Điều 18

    Theo thể thức và điều kiện luật định, mọi người dân đều có quyền bầu cử, ứng cử, tham gia điều khiển việc công hoặc trực tiếp, hoặc do những đại diện của mình.

    Điều 19

    Mọi người dân đều có quyền tham gia công vụ tùy theo năng lực trên căn bản bình đẳng.

    Điều 20

    Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xã hội.

    Trong những trường hợp luật định và với điều kiện có bồi thường, Quốc gia có thể trưng thu tài sản vì công ích.

    Điều 21

    Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.

    Điều 22

    Mọi người dân đều có quyền tổ chức những hợp tác kinh tế, miễn là không có mục đích chiếm trái phép để đầu cơ và thao túng kinh tế.

    Quốc gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác có tính cách tương trợ và không có mục đích đầu cơ.

    Quốc gia không thừa nhận chế độ độc quyền kinh doanh hoặc độc chiếm, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu quốc phòng, an ninh, hay vì lợi ích công cộng.

    Điều 23

    Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được công nhận và sử dụng theo thể thức và điều kiện luật định.

    Công chức không có quyền đình công.

    Quyền đình công không được thừa nhận đối với nhân viên và công nhân trong các ngành hoạt động liên quan đến quốc phòng, an ninh công cộng, hoặc các nhu cầu cần thiết của đời sống tập thể.

    Một đạo luật sẽ ấn định những ngành hoạt động kể trên và đảm bảo cho nhân viên và công nhân các ngành này một quy chế đặc biệt, mục đích là để bảo vệ các nhân viên và công nhân trong các ngành ấy.

    Điều 24

    Trong giới hạn của khả năng và sự phát triển kinh tế Quốc gia sẽ ấn định những biện pháp cứu trợ hữu hiệu trong các trường hợp thất nghiệp, già yếu, bệnh tật, thiên tai hoặc những cảnh hoạn nạn khác.

    Điều 25

    Quốc gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, sự thực hiện sứ mạng gia đình, nhất là trong sự thai nghén, sinh đẻ, dưỡng dục hài nhi.

    Quốc gia tán trợ sự thuần nhứt của gia đình.

    Điều 26

    Quốc gia cố gắng cho mọi người dân một nền giáo dục cơ bản có tính cách bắt buộc và miễn phí.

    Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn.

    Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn.

    Quốc gia thừa nhận phụ huynh có quyền chọn trường cho con em, các đoàn thể và tư nhân có quyền mở trường theo điều kiện luật định.

    Quốc gia có thể công nhận các trường tư thục đại học và cao đẳng chuyên nghiệp hội đủ điều kiện luật định. Văn bằng do những trường ấy cấp phát có thể được Quốc gia thừa nhận.

    Điều 27

    Mọi người đều có quyền tham gia hoạt động văn hóa và khoa học, cùng hưởng thụ nghệ thuật và lợi ích của những tiến bộ kỹ thuật.

    Tác giả được pháp luật bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất liên quan tới mọi phát minh khoa học, sáng tác văn chương hoặc nghệ thuật.

    Điều 28

    Quyền của mỗi người dân được sử dụng theo những thể thức và điều kiện luật định.

    Quyền của mỗi người dân chỉ chịu những sự hạn chế do luật định để tôn trọng quyền của những người khác cùng là thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của sự an toàn chung, nền đạo lý, trật tự công cộng, quốc phòng.

    Ai lạm dụng các quyền được công nhận trong Hiến pháp để phá hoại chánh thể Cộng hòa, chế độ Dân chủ, Tự do và nền Độc lập, Thống nhứt Quốc gia sẽ bị truất quyền.

    Điều 29

    Mọi người dân đều có nhiệm vụ tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp và Luật pháp.

    Mọi người dân đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chính thể Cộng hòa, nền tự do, dân chủ.

    Ai ai cũng phải làm tròn nhiệm vụ quân dịch theo thể thức và trong giới hạn luật định.

    Mọi người dân đều có nhiệm vụ góp phần vào sự chi tiêu công cộng tùy theo khả năng đóng góp của mình.

    THIÊN THỨ BA: Tổng thống

    Điều 30

    Tổng thống được bầu theo lối đầu phiếu phổ thông trực tiếp và kín, trong một cuộc tuyển cử mà cử tri toàn quốc được tham gia. Một đạo luật sẽ quy định thể thức bầu cử Tổng thống.

    Phó Tổng thống được bầu một lần với Tổng thống chung một danh sách.

    Điều 31

    Có quyền ứng cử Tổng thống và Phó Tổng thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây:

    Sinh trên lãnh thổ Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp.

    Cư ngụ trên lãnh thổ Quốc gia một cách liên tục hay không trong một thời gian ít nhất 15 năm.

    Đủ 40 tuổi.

    Hưởng các quyền công dân.

    Chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống không thể kiêm nhiệm với bất cứ một hoạt động nào trong lãnh vực tư dù có thù lao hay không.

    Điều 32

    Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống là năm năm. Tổng thống và Phó Tổng thống có thể được tái cử hai lần nữa.

    Điều 33

    Nhiệm kỳ Tổng thống và Phó Tổng thống chấm dứt đúng 12 giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ sáu mươi kể từ ngày tựu chức và nhiệm kỳ của Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống bắt đầu lúc ấy.

    Nhiệm vụ Tổng thống và Phó Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn, trong những trường hợp sau đây:

    1-Mệnh chung.

    2-Vì bệnh tật trầm trọng và kéo dài, không còn năng lực để chấp chưởng quyền hành và làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc hội xác nhận với đa số 4/5 tổng số Dân biểu sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa.

    3-Từ chức, và sự từ chức này phải được thông đạt cho Quốc hội.

    4-Bị truất quyền do quyết định của Đặc biệt Pháp viện chiếu Điều 81.

    Điều 34

    Cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống sẽ cử hành vào ngày chủ nhật, ba tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống tại chức chấm dứt.

    Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt trước kỳ hạn, Phó Tổng thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ.

    Trong trường hợp dự liệu ở đoạn trên, nếu không có Phó Tổng thống, hoặc nếu Phó Tổng thống, vì một lý do gì, không thể đảm đương nhiệm vụ, Chủ tịch Quốc hội tạm thời đảm nhiệm chức vụ Tổng thống để xử lý thường vụ và tổ chức một cuộc bầu cử Tân Tổng thống và Tân Phó Tổng thống trong thời hạn tối đa hai tháng. Trong trường hợp này, đệ nhất Phó Chủ tịch Quốc hội quyền nhiếp chức vụ Chủ tịch Quốc hội.

    Điều 35

    Tổng thống ký kết, và sau khi được Quốc hội chấp thuận, phê chuẩn các điều ước và hiệp định quốc tế.

    Tổng thống bổ nhiệm các sứ thần, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao, thay mặt Quốc gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc.

    Điều 36

    Với sự thỏa thuận của một nửa tổng số Dân biểu Quốc hội, Tổng thống tuyên chiến hoặc phê chuẩn hòa ước.

    Điều 37

    Tổng thống bổ nhiệm và cách chức tất cả các công chức dân sự và quân sự theo thủ tục luật định, ngoại trừ những trường hợp mà Hiến pháp ấn định một thủ tục đặc biệt.

    Tổng thống là Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự.

    Tổng thống ban các loại huy chương.

    Tổng thống sử dụng quyền ân xá, ân giảm, hoán cải hình phạt, và huyền án.

    Điều 38

    Trong trường hợp chiến tranh hoặc nội loạn, những chức vụ dân cử định trong Hiến pháp sẽ đương nhiên được gia hạn khi mãn nhiệm kỳ.

    Trong trường hợp một đơn vị bầu cử bị đặt trong tình trạng khẩn cấp, báo động, hoặc giới nghiêm, Tổng thống có thể gia hạn nhiệm kỳ dân biểu đơn vị ấy.

    Tuy nhiên, cuộc bầu cử toàn bộ hay cục bộ phải được tổ chức chậm nhất là sáu tháng sau khi những tình trạng đặc biệt kể ở hai đoạn trên chấm dứt.

    Điều 39

    Tổng thống tiếp xúc với Quốc hội bằng thông điệp.

    Tổng thống có thể dự các phiên họp Quốc hội và tuyên bố trước Quốc hội.

    Mỗi năm vào đầu khóa họp thường lệ thứ nhì và mỗi khi thấy cần, Tổng thống thông báo cho Quốc hội biết tình hình Quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chính phủ.

    Điều 40

    Với sự thỏa thuận của Quốc hội, Tổng thống có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý phải được Tổng thống và Quốc hội tôn trọng.

    Điều 41

    Giữa hai khóa họp Quốc hội, Tổng thống vì lý do khẩn cấp có thể ký sắc luật. Các sắc luật này phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ấy.

    Trong khóa họp thường lệ tiếp cận, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.

    Điều 42

    Trong tình trạng khẩn cấp, chiến tranh, nội loạn, khủng hoảng kinh tế hoặc tài chính, Quốc hội có thể biểu quyết một đạo luật ủy cho Tổng thống, trong một thời gian, với những hạn định rõ, quyền ký các sắc luật để thực hiện chánh sách mà Quốc hội ấn định trong đạo luật ủy quyền. Các sắc luật phải được chuyển đến Văn phòng Quốc hội ngay sau khi ký. 30 ngày sau khi mãn thời hạn đã ấn định trong đạo luật ủy quyền, nếu Quốc hội không bác bỏ, các sắc luật ấy sẽ được coi hẳn như những đạo luật.

    Điều 43

    Trong trường hợp ngân sách không được Quốc hội chung quyết trong thời hạn ấn định ở Điều 60, Tổng thống có thể ký sắc luật ngân sách cho tài khóa sau.

    Mỗi tam cá nguyệt Tổng thống có thể thi hành một phần tư của ngân sách cho đến khi Quốc hội chung quyết xong đạo luật ngân sách.

    Trong đạo luật ngân sách, Quốc hội phải giải quyết các hậu quả gây nên do việc bác bỏ hoặc sửa đổi những điều khoản của sắc luật ngân sách.

    Điều 44

    Tổng thống có thể ký sắc lệnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp, báo động hoặc giới nghiêm trong một hay nhiều vùng; các sắc lệnh này có thể tạm đình chỉ sự áp dụng một hoặc nhiều đạo luật tại những vùng đó.

    Điều 45

    Khi nhậm chức, Tổng thống tuyên thệ như sau:

    Tôi long trọng tuyên thệ:

    Tận lực cố gắng làm tròn nhiệm vụ Tổng thống;

    Tôn trọng giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp;

    Trung thành phụng sự Tổ quốc và hết lòng phục vụ lợi ích công cộng.

    Điều 46

    Tổng thống, có Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng phụ tá. Các Bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng thống.

    Điều 47

    Các Bộ trưởng và Thứ trưởng có thể hội kiến với Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, và các Chủ tịch Ủy ban để giải thích về các vấn đề liên hệ với lập pháp.

    THIÊN THỨ TƯ: Quốc hội

    Chương Một. – Dân biểu

    Điều 48

    Đạo luật tuyển cử ấn định số Dân biểu Quốc hội và các đơn vị bầu cử.

    Điều 49

    Dân biểu được bầu cử theo lối đầu phiếu phổ thông, trực tiếp và kín, theo những thể thức và điều kiện do đạo luật tuyển cử quy định.

    Điều 50

    Có quyền ứng cử Dân biểu những người:

    Có quốc tịch Việt Nam liên tục từ khi mới sinh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất năm năm, hoặc đã hồi phục Việt tịch ít nhất ba năm trừ những người đã hồi phục Việt tịch trước ngày ban hành Hiến pháp;

    Hưởng các quyền công dân;

    Đủ 25 tuổi tới ngày đầu phiếu;

    Hội đủ các điều kiện khác dự liệu trong đạo luật tuyển cử.

    Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt những người nhập Việt tịch có công trạng với Tổ quốc hoặc những người hồi phục Việt tịch có thể được Tổng thống ký sắc lệnh giảm thời hạn năm hoặc ba năm ghi trên.

    Điều 51

    Nhiệm kỳ Dân biểu là ba năm. Các Dân biểu có thể được tái cử.

    Cuộc bầu cử Quốc hội mới sẽ cử hành một tháng trước khi pháp nhiệm chấm dứt.

    Điều 52

    Khi một Dân biểu từ chức, mệnh chung, hoặc chấm dứt nhiệm vụ vì bất cứ một nguyên nhân nào, cuộc bầu cử Dân biểu thay thế sẽ được cử hành trong hạn ba tháng.

    Sẽ không bầu Dân biểu thay thế, nếu sự khống khuyết xẩy ra không đầy sáu tháng trước khi mãn pháp nhiệm.

    Điều 53

    Nhiệm vụ dân biểu không thể kiêm nhiệm với một công vụ được trả lương hay nhiệm vụ dân cử khác. Công chức đắc cử phải nghỉ giả hạn, quân nhân đắc cử phải giải ngũ.

    Nhiệm vụ Dân biểu không thể kiêm nhiệm với những chức vụ Bộ trưởng và Thứ trưởng.

    Tuy nhiên, Dân biểu có thể đảm nhận những công vụ đặc biệt liên tục không quá (12) mười hai tháng và thời gian đảm nhận công vụ tổng cộng không quá nửa thời kỳ pháp nhiệm. Trong thời gian đảm nhận công vụ, Dân biểu không có quyền thảo luận và biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban của Quốc hội.

    Dân biểu có thể phụ trách giảng huấn tại các trường cấp bậc đại học và kỹ thuật cao đẳng.

    Trong bất kỳ trường hợp nào, Dân biểu không thể tham dự những cuộc đấu thầu hoặc ký hợp đồng với các cơ quan chính quyền.

    Điều 54

    Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay kết án một Dân biểu vì những lời nói hoặc vì những sự biểu quyết tại Quốc hội hoặc tại các Ủy ban Quốc hội.

    Ngoại trừ trường hợp phản quốc, xâm phạm an ninh Quốc gia hoặc đương trường phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu trong suốt thời gian các khóa họp Quốc hội, kể cả thời gian đi họp và họp về.

    Chương Hai – Quyền hành của Quốc hội.

    Điều 55

    Quốc hội biểu quyết các đạo luật. Quốc hội chấp thuận các điều ước và các hiệp định quốc tế.

    Chương Ba – Thủ tục Lập pháp

    Điều 56

    Dân biểu có thể đưa ra Quốc hội xét các dự án luật, Tổng thống có thể đưa ra Quốc hội xét các dự thảo luật.

    Điều 57

    Các dự án và dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận sẽ chuyển đến Tổng thống trong thời hạn bảy ngày tròn.

    Tổng thống phải ban hành các đạo luật trong thời hạn ba mươi ngày tròn kể từ ngày tiếp nhận. Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc hội tuyên bố, thời hạn ban hành sẽ rút ngắn còn bảy ngày tròn.

    Điều 58

    Trong thời hạn ban hành, Tổng thống có thể gởi thông điệp viện dẫn lý do yêu cầu Quốc hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản đã được chấp thuận.

    Khi phúc nghị, nếu Quốc hội không đồng ý sửa đổi theo thông điệp Tổng thống thì Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu Quốc hội.

    Điều 59

    Trong thời hạn ấn định ở Điều 57, nếu Tổng thống không ban hành hoặc không chuyển hoàn bản văn mà Quốc hội đã thông qua, bản văn ấy sẽ đương nhiên thành luật.

    Điều 60

    Dự thảo ngân sách phải gởi tới Văn phòng Quốc hội trước ngày ba mươi tháng Chín. Ngân sách phải được chung quyết trước ngày ba mươi mốt tháng Chạp.

    Điều 61

    Dân biểu có quyền đề khởi các khoản chi mới, nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương.

    Chương Tư – Điều hành Quốc hội.

    Điều 62

    Quốc hội nhóm họp những khóa thường lệ hoặc bất thường.

    Điều 63

    Hằng năm có hai khóa họp thường lệ: một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng tư dương lịch, và một khóa đương nhiên bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không lâu quá ba tháng.

    Điều 64

    Quốc hội phải được triệu tập nhóm họp các khóa bất thường nếu có sự yêu cầu của Tổng thống hoặc quá nửa tổng số Dân biểu Quốc hội.

    Trong trường hợp Tổng thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Tổng thống ấn định.

    Trong trường hợp Dân biểu yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp bất thường do Văn phòng Quốc hội ấn định.

    Thời gian mỗi khóa họp bất thường của Quốc hội không được quá ba mươi ngày.

    Điều 65

    Quốc hội nhóm họp công khai. Tuy nhiên, Quốc hội họp kín nếu quá nửa số Dân biểu hiện diện hoặc Tổng thống yêu cầu.

    Các bản tường thuật y nguyên cuộc thảo luận và các tài liệu xuất trình tại Quốc hội sẽ được đăng trong Công báo, ngoại trừ trường hợp Quốc hội họp kín.

    Điều 66

    Để kiểm soát tính cách hợp thức cuộc bầu cử các Dân biểu, Quốc hội sẽ chỉ định một Ủy ban kiểm soát để phụ trách việc phúc trình về vấn đề này.

    Quốc hội có toàn quyền định đoạt.

    Điều 67

    Quốc hội bầu Văn phòng gồm có Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 1 Tổng Thư ký, 3 Phó Tổng Thư ký, và một số nhân viên cần thiết.

    Quốc hội chỉ định các Ủy ban.

    Điều 68

    Quốc hội ấn định nội quy, nhất là các vấn đề sau:

    Tổ chức nội bộ Quốc hội và Văn phòng;

    Thủ tục Quốc hội và quyền hạn Văn phòng;

    Kỷ luật trong Quốc hội và các sự chế tài về kỷ luật;

    Thành phần và quyền hạn các Ủy ban.

    Điều 69

    Một dự án hoặc dự thảo luật được Quốc hội chấp thuận chỉ có giá trị nếu hội đủ đa số một phần ba tổng số Dân biểu.

    THIÊN THỨ NĂM: Thẩm phán

    Điều 70

    Để thi hành nhiệm vụ ấn định ở Điều 4, Tư pháp được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng của mọi người trước pháp luật và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán xử án.

    Điều 71

    Thẩm phán xử án quyết định theo lương tâm mình, trong sự tôn trọng luật pháp và quyền lợi Quốc gia.

    Điều 72

    Dưới sự kiểm soát của Bộ Tư pháp, Thẩm phán công tố, trông coi, và theo dõi sự áp dụng luật pháp, sự tôn trọng đạo lý và trật tự công cộng.

    Điều 73

    Sẽ thiết lập một Thượng Hội đồng Thẩm phán có nhiệm vụ góp phần trông coi sự áp dụng quy chế Thẩm phán xử án. Tổ chức, điều hành, và quyền hạn của Thượng Hội đồng sẽ do luật định.

    THIÊN THỨ SÁU: Đặc biệt Pháp viện

    Điều 74

    Đặc biệt Pháp viện là một tòa án đặc biệt có thẩm quyền xét xử Tổng thống, Phó Tổng thống, Chánh án Tòa Phá án, và Chủ tịch Viện Bảo hiến, trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội.

    Điều 75

    Đặc biệt Pháp viện gồm có:

    Chánh án Tòa Phá án, Chánh án;

    Mười lăm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ, Hội thẩm.

    Khi Chánh án Tòa Phá án là bị can, Chủ tịch Viện Bảo hiến sẽ ngồi ghế Chánh án.

    Điều 76

    Ban Điều tra của Đặc biệt Pháp viện gồm năm Dân biểu do Quốc hội bầu ra mỗi nhiệm kỳ.

    Điều 77

    Sự khởi tố theo các điều kiện sau:

    a/ Phải có một bản đề nghị viện dẫn lý do, được ba phần năm tổng số Dân biểu Quốc hội ký tên, nộp tại Văn phòng Quốc hội mười lăm ngày trước khi thảo luận;

    b/ Đề nghị đó phải được hai phần ba tổng số Dân biểu Quốc hội chấp thuận.

    c/ Các Dân biểu trong Đặc biệt Pháp viện và trong Ban Điều tra không được quyền đề nghị khởi tố và biểu quyết về đề nghị này.

    Điều 78

    Nhiệm vụ của đương sự bị đình chỉ từ khi Quốc hội biểu quyết truy tổ đến khi Đặc biệt Pháp viện phán quyết. Trong thời gian này sự quyền nhiếp sẽ theo thể thức định ở Điều 34, đoạn 2 và 3.

    Điều 79

    Ban Điều tra có quyền đòi hỏi nhân chứng và đòi các cơ quan liên hệ xuất trình các hồ sơ và tài liệu mật. Ban Điều tra sẽ làm tờ trình trong thời hạn hai tháng trước khi được Đặc biệt Pháp viện triển hạn một tháng nữa.

    Điều 80

    Đặc biệt Pháp viện họp để nghe Ban Điều tra và đương sự trình bày và phán quyết theo đa số ba phần tư tổng số nhân viên.

    Điều 81

    Nếu xét đương sự phạm tội, Đặc biệt Pháp viện sẽ tuyên bố truất quyền. Phán quyết này có hiệu lực ngay.

    THIÊN THỨ BẢY: Hội đồng Kinh tế Quốc gia

    Điều 82

    Hội đồng Kinh tế Quốc gia có nhiệm vụ trình bày sáng kiến và phát biểu ý kiến về các dự thảo, dự án kinh tế.

    Hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia lựa trong các nghiệp đoàn và các ngành hoạt động kinh tế, các tổ chức hoạt động xã hội liên hệ với kinh tế và các nhà kinh tế học.

    Chức vụ hội viên Hội đồng Kinh tế Quốc gia không thể kiêm nhiệm với nhiệm vụ Dân biểu Quốc hội.

    Điều 83

    Phó Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng Kinh tế Quốc gia.

    Điều 84

    Một đạo luật sẽ ấn định cách tổ chức và điều hành của Hội đồng Kinh tế Quốc gia.

    THIÊN THỨ TÁM: Viện Bảo hiến

    Điều 85

    Viện Bảo hiến phán quyết về tánh cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh.

    Điều 86

    Viện Bảo hiến, về mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, gồm có:

    Một Chủ tịch cho Tổng thống cử với thỏa hiệp của Quốc hội.

    4 Thẩm phán cao cấp hay luật gia do Tổng thống cử;

    4 Dân biểu do Quốc hội cử.

    Điều 87

    Viện Bảo hiến thụ lý các đơn xin phán quyết về tính cách hợp hiến của các đạo luật, sắc luật, và quy tắc hành chánh do các Tòa án nộp trình.

    Phán quyết của Viện Bảo hiến có hiệu lực đình chỉ sự thi hành các điều khoản bất hợp hiến kể từ ngày phán quyết ấy được đăng trong Công báo.

    Điều 88

    Một đạo luật sẽ quy định cách tổ chức và điều hành của Viện Bảo hiến cùng thủ tục áp dụng trước cơ quan ấy.

    THIÊN THỨ CHÍN: Sửa đổi Hiến pháp

    Điều 89

    Không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ các Điều 1, 2, 3, 4, và điều này của Hiến pháp.

    Điều 90

    Tổng thống hay hai phần ba tổng số Dân biểu có thể đề nghị sửa Hiến pháp.

    Đề nghị sửa Hiến pháp có viện dẫn lý do phải đủ chữ ký và nạp tại Văn phòng Quốc hội.

    Điều 91

    Sau khi nhận được đề nghị hợp lệ sửa đổi Hiến pháp, Văn phòng Quốc hội sẽ triệu tập một phiên họp đặc biệt của Quốc hội để cử một Ủy ban gồm ít nhứt mười lăm người có nhiệm vụ nghiên cứu đề nghị này, tham khảo ý kiến của Viện Bảo hiến và của Tổng thống.

    Trong thời hạn tối đa sáu mươi ngày, Ủy ban sẽ thuyết trình trước Quốc hội trong phiên họp đặc biệt.

    Điều 92

    Đề nghị sửa đổi Hiến pháp chỉ được chấp thuận nếu ba phần tư tổng số Dân biểu tán thành trong một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu.

    Điều 93

    Đề nghị được chấp thuận sẽ ban hành theo thủ tục ghi ở các Điều 57, 58, 59.

    Nếu có phúc nghị, Quốc hội sẽ chung quyết bằng một cuộc minh danh và đích thân đầu phiếu với đa số ba phần tư tổng số Dân biểu.

    THIÊN THỨ MƯỜI: Các Điều khoản Chung

    Điều 94

    Hiến pháp sẽ ban hành ngày hai mươi sáu tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu.

    Điều 95

    Quốc hội dân cử ngày mồng bốn tháng Ba dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi sáu sẽ là Quốc hội Lập pháp đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa.

    Nhiệm kỳ Quốc hội Lập pháp bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi chín.

    Điều 96

    Đương kim Tổng thống được nhân dân ủy nhiệm thiết lập nền Dân chủ do cuộc trưng cầu dân ý ngày hai mươi ba tháng Mười dương lịch năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, sẽ là Tổng thống đầu tiên theo Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa.

    Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ ngày ban hành hiến pháp và chấm dứt ngày ba mươi tháng Tư năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt.

    Điều 97

    Trong khóa họp thứ nhứt của Quốc hội Lập pháp đầu tiên, đương kim Tổng thống sẽ chỉ định Phó Tổng thống đầu tiên. Sự chỉ định này sẽ thành nhứt định nếu được Quốc hội chấp thuận.

    Nếu có sự thay thế, sự chỉ định Phó Tổng thống mới cũng theo theo thủ tục đó trong suốt nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên.

    Điều 98

    Trong nhiệm kỳ Lập pháp đầu tiên, Tổng thống có thể tạm đình chỉ sự sử dụng những quyền tự do đi lại và cư ngụ, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do nghiệp đoàn và đình công để thỏa mãn những đòi hỏi đích đáng của an toàn chung, trật tự công cộng và quốc phòng.

  • Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong Hoạt Động Trên Căn Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà 1967

    Kính thưa đồng bào, quý chiến hữu và quý vị,

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong là chính phủ tiếp nối tại hải ngoại của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Đệ Nhị. Do đó, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong hoạt động trên căn bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà 1967 và thông lệ quốc tế về chính phủ lưu vong.

    Tuy nhiên, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong cũng tham khảo ứng dụng Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà 1956, Hiến Pháp Hoa Kỳ, và những bản tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, dân quyền của Liên Hiệp Quốc.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong hy vọng sẽ được quốc tế và người dân tín nhiệm để trở thành chính phủ lâm thời sau khi chế độ Công Sản sụp đổ.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong đã và đang chuẩn bị để trở thành chính phủ lâm thời.

    Chính Phủ Lâm Thời sẽ tổ chức bầu cử thành lập Quốc Hội Lập Hiến để có Hiến Pháp Đệ Tam Cộng Hoà hầu làm nền tảng cho sự vận hành của chính phủ dân cử.

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    17/8/2022

    Việt Nam Cộng Hoà

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong

    Nonprofit Public Benefit Corporation

    1165 Barrington Ct San Jose CA 95121 USA

    Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà Tuyên Bố Chủ Quyền Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau

    Kính thưa đồng bào, quý chiến hữu và quý vị,

    Việt Nam Cộng Hoà tuyên bố chủ quyền Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.

    Miền Bắc bị Cộng Sản là thế lực ăn cướp quốc tế tạm chiếm hơn 20 năm trước Miền Nam; nhưng, Miền Bắc cũng thuộc Việt Nam mà Việt Nam Cộng Hoà tuyên bố chủ quyền.

    Hiến Pháp Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà 26/10/1956 nói rõ trong phần giới thiệu:

    “Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:

    Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan; …”

    Hiến Pháp Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hoà 18/3/1967 cũng nói rõ vấn đề toàn vẹn lãnh thổ:

    “Điều 1

    1. Việt Nam là một nước Cộng Hòa, độc lập, thống nhất lãnh thổ bất khả phân.

    2. Chủ quyền Quốc gia thuộc về toàn dân.”

    Miền Nam tạm thời bị Cộng Sản chiếm đóng từ 1975.

    Việt Nam Cộng Hoà tạm thời mất quyền lực phải lưu vong.

    Khi Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong trở về, Việt Nam Cộng Hoà sẽ bao gồm cả Miền Nam và Miền Bắc.

    Người dân Miền Bắc và người dân Miền Nam đều là nạn nhân của Cộng Sản. Khác nhau là rơi vào tay Cộng Sản trước sau mà thôi.

    Giải cứu Quốc Gia Dân Tộc thoát Cộng thoát Tàu là giải cứu người dân Việt Nam trên toàn cõi Việt Nam.

    Xin hãy tỉnh táo, đừng mắc lừa Cộng Sản!

    Cùng nhau chúng ta sẽ giải cứu Quốc Gia Dân Tộc thoát Cộng thoát Tàu!

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    Phone: 408-623-1814

    Email: nguyenthequang1958cpvnchlv@gmail.com

    Postal mail: 1165 Barrington Ct San Jose CA 95121 USA

    31/8/2022

    Cộng Sản chiếm Miền Nam một cách bất hợp pháp. Cộng Sản cũng chiếm Miền Bắc một cách bất hợp pháp. Người dân Miền Nam cũng như người dân Miền Bắc chưa bao giờ bầu chọn Cộng Sản lãnh đạo trong một cuộc bầu cử tự do. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chỉ là bù nhìn của Cộng Sản Quốc Tế.

    Người dân Việt Miền Bắc cũng như người dân Việt Miền Nam đều là nạn nhân của Cộng Sản.

    Giải cứu dân nước thoát Cộng thoát Tàu là giải cứu toàn dân Việt cả Miền Nam và Miền Bắc.

    Hãy tham gia Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong để chung tay cứu dân cứu nước.

    Trân trọng,

    Nguyễn Thế Quang

    17/11/2024

    Bộ Trưởng Ngoại Giao Trần Văn Đỗ của Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam – tiền thân của Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) – đã từ chối ký Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước, nên VNCH không chịu trách nhiệm về việc chia đôi đất nước này. Chính thứ trưởng Tạ Quang Bửu của Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã ký Hiệp Định chia đôi đất nước với Thiếu Tướng Delteil đại diện Chính Phủ Pháp, theo quyết định của Thủ Tướng Tàu Chu Ân Lai.

    “4- Các “sử gia” cộng sản cũng không thể vu cáo Chánh phủ Quốc Gia Việt Nam đã chia cắt đất nước Việt Nam tại Hội nghị Genève 1954. Thật vậy, phái đoàn Quốc Gia Việt Nam do Bác sĩ Trần văn Đỗ lãnh đạo đã không ký Hiệp định Genève nhưng chính Thứ trưởng bộ Quốc Phòng Tạ Quang Bửu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Minh) đã ký hiệp định nầy cùng với Thiếu tướng Delteil, Đại diện Chánh phủ Pháp, theo quyết định của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai để phân chia nước Việt Nam ra hai miền Nam Bắc, mỗi miền có một chánh thể riêng và ranh giới giữa hai miền Nam Bắc được ấn định rõ rệt tại vĩ tuyến 17. Một Khu Phi Chiến (DMZ) rộng 3 miles (hải lý) từ ranh giới của hai bên cũng được thiết lập để ngăn cách hai miền Nam Bắc Việt Nam. “

    (Thẩm Phán Phạm Đình Hưng – Tính Chính Danh Hợp Pháp của VNCH)

    Việt Nam bị tạm thời chia đôi bởi Hiệp Định Genève năm 1954 do quyết định của Tàu, Pháp và Việt Cộng.

    Việt Nam đã thống nhất năm 1975 dưới chế độ Cộng Sản do quyết định của Mỹ và Tàu.

    Người Việt đấu tranh cho dân chủ pháp trị để thay thế chế độ độc tài đảng trị của chế độ Cộng Sản Tàu-Việt bán nước hại dân hãy cùng nhau phục hoạt VNCH.

    Giải pháp Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong là thông lệ quốc tế, là giải pháp cứu nước hợp pháp, hợp lý, và khả thi.

    Thông Lệ Quốc Tế về Vấn Đề Chính Phủ Lưu Vong

    Thông lệ quốc tế về vấn đề chính phủ lưu vong là điều mà nhiều người chống Cộng không hiểu rõ.

    Khi đất nước mình bị tạm chiếm bởi lực lượng Cộng Sản phi dân tộc thì người tỵ nạn chính trị có quyền thành lập chính phủ lưu vong để có thể trở về khi lực lượng tạm chiếm đó không còn nữa.

    Chính phủ lưu vong sẽ trở thành chính phủ lâm thời và tổ chức bầu cử tự do dân chủ.

    Chính phủ lưu vong không phải là chính phủ dân cử.

    Tổng thống chính phủ lưu vong không phải là tổng thống dân cử.

    Chính phủ lưu vong không có giá trị gì nhiều khi chưa được quốc gia sở tại chính thức công nhận và giúp phục hoạt.

    Mặt khác, người dân trong nước ủng hộ chính phủ lưu vong thì mới mong quốc tế ủng hộ.

    Khi còn bị Cộng Sản chiếm đóng, các nước Latvia, Estonia, và Lithuania ở vùng Baltic và những nước ở Đông Âu đều có chính phủ lưu vong ở ngoại quốc.

    Khi Cộng Sản Liên Sô sụp đổ, những nhà cầm quyền Cộng Sản bù nhìn ở những nước đó tự động sụp đổ theo.

    Những chính phủ lưu vong ở hải ngoại trở về chấp chính.

    Tình hình chính trị thế giới hiện tại cho phép ta suy luận rằng những chế độ độc tài toàn trị của Nga và Tàu sẽ tan rã và Việt Cộng sẽ tự động tan rã theo.

    Việt Nam Cộng Hoà có cơ may trở về!

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong rất có thể sẽ được đa số người dân Việt Nam và Thế Giới Tự Do ủng hộ để thay thế chế độ độc tài Việt Cộng tan rã.

    Cùng nhau, chúng ta sẽ phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà và giải cứu Quốc Gia Dân Tộc thoát Cộng thoát Tàu.

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    17/12/2022

    Mất Nước Thì Phải Lập Chính Phủ Lưu Vong

    Kính thưa đồng bào, quý chiến hữu và quý vị,

    Mất nước thì phải lập chính phủ lưu vong để mong lấy lại nước.

    Muốn phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà thì phải có Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong (CPVNCHLV).

    Khi chiến tranh Mỹ-Tàu xảy ra, Việt Cộng không thể đu dây được nữa, sẽ theo Tàu vì Việt Cộng là con đẻ của Tàu Cộng.

    Do đó, Mỹ sẽ ký hợp tác chiến lược với CPVNCHLV để có thể chính danh vào lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam với tư cách đồng minh của Việt Nam Cộng Hoà để đánh Tàu Cộng và Việt Cộng.

    Chính Phủ Hoa Kỳ và các chính phủ đồng minh của Hoa Kỳ không ký hợp tác chiến lược với một tổ chức mang danh đảng phái, mà sẽ ký với một tổ chức mang danh chính phủ.

    Chính phủ lưu vong đó hẳn phải là Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong.

    Cùng nhau, chúng ta sẽ giải cứu Quốc Gia Dân Tộc thoát Cộng thoát Tàu.

    Xin cảm ơn và kính chào quý vị!

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    24/05/2022

    Thông Tin Công Cộng của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong

    Kính thưa đồng bào, quý chiến hữu và quý vị,

    Xin quý vị vào link: https://bizfileonline.sos.ca.gov/search/business.

    Ở cuối trang, trong khung dành cho tên tổ chức mà quý vị muốn tìm kiếm, xin đánh vào: REPUBLIC OF VIETNAM GOVERNMENT IN EXILE, quý vị sẽ thấy:

    Entity Information: REPUBLIC OF VIETNAM GOVERNMENT IN EXILE (4071043)

    Initial Filing Date: 10/03/2017

    Status: Active

    Entity Type: Nonprofit Corporation – CA – Public Benefit

    Formed In: CALIFORNIA

    Agent: QUANG THE NGUYEN

    Phù Hợp Với Thông Lệ Quốc Tế

    Chống Cộng Sản với tư cách cá nhân rất tốt, với tư cách đảng phái càng  tốt hơn, nhưng không có hiệu quả bằng chống Cộng Sản trong tổ chức chính phủ lưu vong chính danh hợp pháp.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong là danh xưng chính phủ lưu vong đúng đắn nhất của những người tỵ nạn chính trị ra đi lưu vong từ nước Việt Nam Cộng Hoà và mong muốn phục quốc.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong là tổ chức chính trị có trụ sở tại Hoa Kỳ, có tư cách pháp nhân, và phù hợp với thông lệ quốc tế về chính phủ lưu vong.

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    13/7/2023

    Republic of Vietnam Government in Exile Officers

    1-Chief Executive Officer: Quang The Nguyen

    Address: 1165 Barrington Ct San Jose CA 95121

    Email: nguyenthequang1958cpvnchlv@gmail.com

    Phone: 408-623-1814

    2-Chief Financial Officer: Thomas Tuan Tran

    3-Secretary: Anton Nguyen

    4-Agent for Service of Process: Quang The Nguyen

    Purpose and Activities of the Republic of Vietnam Government in Exile

    Purpose: Restoring the Republic of Vietnam.

    Activities:

    1-Helping form government organizations for the restoration of the Republic of Vietnam.

    2-Collecting donations.

    VNCH Sẽ Trở Về

    Quả đúng như vậy. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong hiện tại không có giá trị gì nhiều đối với Liên Hiệp Quốc cũng như đối với các nước trên thế giới được Liên Hiệp Quốc công nhận.

    Tuy nhiên mọi sự đều có thể thay đổi trong bối cảnh chính trị thế giới hiện đại.

    Khi Mỹ Tàu xung đột quân sự thì Việt Nam Cộng Sản sẽ đứng về phía Tàu vì không thể đu dây được nữa.

    Sau đó, Mỹ sẽ công nhận Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong và công nhận tính chính danh của Việt Nam Cộng Hoà.

    Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ sẽ ký hợp tác chiến lược, cùng chống Tàu Cộng bành trướng và Việt Cộng bù nhìn.

    Hoa Kỳ và Đồng Minh sẽ đánh bại Tàu Cộng.

    Nhiên hậu bù nhìn Việt Cộng sẽ tan rã và Việt Nam Cộng Hoà sẽ trở lại thay thế nhà cầm quyền Cộng Sản.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong sẽ trở thành chính phủ lâm thời và sẽ tổ chức bầu cử tự do đa đảng.

    Việt Nam sẽ là một nước Cộng Hoà, độc lập, tự chủ, không còn lệ thuộc Tàu Cộng.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong đã và đang chuẩn bị cho tương lai tươi sáng đó của Việt Nam.

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    Phone: 408-623-1814

    Email: nguyenthequang1958cpvnchlv@gmail.com

    Postal mail: 1165 Barrington Ct San Jose CA 95121 USA

    10/11/2024

    Chủ Trương và Quan Điểm của CPVNCHLV

    Kính thưa đồng bào, chiến hữu và quý vị,

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong (CPVNCHLV) có chủ trương và quan điểm như sau:

    1. Chống Tàu Cộng xâm lược và Việt Cộng tay sai bán nước hại dân.

    2. Không chống phá cá nhân hay tổ chức chống Cộng khác cách với mình

    3. Dù bị cá nhân/tổ chức chống phá, cũng không chống phá lại, mà chỉ đưa ra sự thật để đáp lại vu khống.

    4. Quan trọng là người dân sẽ tham gia/ủng hộ tổ chức nào và chính phủ Hoa Kỳ/Thế Giới Tự Do sẽ công nhận chính phủ lưu vong nào.

    5. Mọi chỉ trích đánh phá nhau giữa các tổ chức hay cá nhân chống Cộng đều có hại cho chính nghĩa Quốc Gia và có lợi cho Cộng Sản.

    6. Người Việt Quốc Gia chúng ta nên khiêm tốn tìm đến nhau, thẳng thắn nói chuyện với nhau; rồi từ từ sẽ hiểu nhau và nhận ra rằng chúng ta thực sự không khác nhau nhiều vì chúng ta có chung mục đích phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà để giải cứu Quốc Gia Dân Tộc thoát Cộng thoát Tàu.

    7. Việc thương lượng với nhau là có thể được và có lợi cho đại cuộc giải cứu Quốc Gia và Dân Tộc thoát Cộng thoát Tàu của toàn dân, cũng như cho tất cả mọi cá nhân và tổ chức.

    Xin cảm ơn và kính chào quý vị.

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    7/12/2019

    Chủ Trương Không Tranh Cãi Vô Ích

    Kính thưa đồng bào, quý chiến hữu và quý vị,

    Thành viên Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong (CPVNCHLV) không bao giờ muốn tranh cãi với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì, đặc biệt về vấn đề chính trị, nếu không thực sự cần thiết.

    Người có quan điểm riêng về chính trị sẽ không dễ dàng bị thuyết phục để chấp nhận quan điểm khác biệt của người khác ưu việt hơn quan điểm của mình.

    Do đó, những người khác biệt về quan điểm chính trị không nên tranh cãi làm gì cho mất thời giờ vì sẽ không đưa đến kết quả hữu ích nào, mà chỉ làm tổn thương nhau và làm cho Việt Cộng chê cười mà thôi.

    Ai thấy thích hợp với CPVNCHLV thì ủng hộ, tham gia. Đó là điều tốt!

    Ai không thích hợp, không ủng hộ tham gia thì đó là quyền của họ! CPVNCHLV tôn trọng khác biệt.

    Ai chống đối CPVNCHLV, bôi nhọ, vu khống cách này cách khác CPVNCHLV không lấy đó làm phiền muộn mà còn cảm ơn họ đã quảng cáo không công cho CPVNCHLV, vì “vàng thiệt không sợ lửa”.

    Ai là người Quốc Gia chống Cộng chân chính nghi ngờ CPVNCHLV lường gạt, xin hãy báo với FBI hay nhà cầm quyền để họ làm việc. Xin đừng vì lòng sốt mến sai lầm hay ganh ghét ghen tương mà đâm sau lưng chiến sĩ!

    Ai muốn kiện cáo CPVNCHLV, xin hãy tiến hành. CPVNCHLV sẵn lòng tranh luận tại toà.

    CPVNCHLV là một tổ chức chính trị công khai, chính danh, và hợp pháp có mục đích phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà và có hoạt động bao gồm nhận đóng góp ủng hộ tài chánh và giúp thành lập những tổ chức chính phủ cho chính quyền trung ương và địa phương cho mục đích phục hoạt VNCH.

    Cùng nhau chúng ta sẽ giải cứu Quốc Gia Dân Tộc thoát Cộng thoát Tàu!

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    11/6/2020

    #######

  • Thẩm Phán Phạm Đình Hưng

    Ngày 20-7-2015, tôi đã phổ biến trên các mạng xã hội một bài viết về “Tính Chánh Danh và Hợp Pháp Của Nhà Cầm Quyền”. (Phạm Đình Hưng, Thay Ngôi Đổi Chủ, Chương 2, 2016, Hoa Kỳ)

    Mới đây, nhân dịp phát hành bộ Sử Việt Nam tu chính lần thứ nhứt theo chỉ thị của một cấp cao trong hệ thống quyền lực ở Hà Nội với một mục đích thầm kín, “sử gia” Trần Đức Cường, nguyên Viện trưởng Viện Sử Học Việt Nam cộng sản, đã buộc lòng phải công nhận chánh thể Việt Nam Cộng Hòa nhưng lại công khai phỉ báng và miệt thị Việt Nam Cộng Hòa thiếu chánh danh và bất hợp pháp !

    Với tư cách Giám Sát của Giám Sát Viện Việt Nam Cộng Hòa trước 30-4-1975 (thời quân chủ gọi là Giám sát Ngự sử), tôi cần viện dẫn một số sự kiện lịch sử chính xác để chứng minh Việt Nam Cộng Hòa là một chánh quyền có chánh danh và hoàn toàn hợp pháp. Ngược lại, tôi cũng phải nêu ra vài sự kiện lịch sử hoàn toàn có thật để vạch trần ngụy danh và tính bất hợp pháp của nhà cầm quyền cộng sản từ thời Hồ Chí Minh đến thời Nguyễn Phú Trọng.

    Tính chánh danh của Việt Nam Cộng Hòa

    1-Việt Nam Cộng Hòa (Republic of Vietnam) là hậu thân của Quốc Gia Việt Nam (État du Vietnam) do Cựu Hoàng Bảo Đại lãnh đạo với cương vị Quốc trưởng (Chef d’État) từ 1948 đến 1955. Quốc trưởng Bảo Đại, vị vua thứ 13 của Nhà Nguyễn nối ngôi vua Khải Định ngày 8-1-1926, đã thừa kế chánh danh của Vương triều Nhà Nguyễn đã có từ thời Hoàng đế Gia Long lên ngôi cữu ngũ năm 1802. Chánh danh của Quốc Gia Việt Nam đã chuyển qua Việt Nam Cộng Hòa từ ngày Trưng Cầu Dân Ý (Referendum) 23-10-1955.

    Về địa lý và chánh trị, Quốc Gia Việt Nam là một nước độc lập và thống nhứt từ 1948, lãnh thổ bao gồm Nam Phần, Trung Phàn và Bắc Phần chạy dài từ ãi Nam Quan đến mũi Cà Mau.

    2- Tính chánh danh của Quốc Gia Việt Nam (1948-1955) và Việt Nam Cộng Hòa (1955-1975) đã được củng cố do các thành tích bảo quốc an dân, duy trì và phát triển dân tộc, xây dựng một đất nước phồn thịnh, ổn định xã hội, tôn trọng dân chủ, nhân quyền và dân quyền, tạo lập an bình, tự do và hạnh phúc cho quần chúng nhân dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, thành phần xã hội.

    3- Đến ngày nay, không ai có thể qui trách Quốc Gia Việt Nam hoặc Việt Nam Cộng Hòa đã nhượng bán lãnh thổ cho ngoại bang và để lại cho người dân một món nợ công nào sau ngày Bắc Việt cộng sản xâm lăng, chiếm đoạt và thống trị miền Nam Việt Nam như một thuộc địa.

    4- Các “sử gia” cộng sản cũng không thể vu cáo Chánh phủ Quốc Gia Việt Nam đã chia cắt đất nước Việt Nam tại Hội nghị Genève 1954. Thật vậy, phái đoàn Quốc Gia Việt Nam do Bác sĩ Trần văn Đỗ lãnh đạo đã không ký Hiệp định Genève nhưng chính Thứ trưởng bộ Quốc Phòng Tạ Quang Bửu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Minh) đã ký hiệp định nầy cùng với Thiếu tướng Delteil, Đại diện Chánh phủ Pháp, theo quyết định của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai để phân chia nước Việt Nam ra hai miền Nam Bắc, mỗi miền có một chánh thể riêng và ranh giới giữa hai miền Nam Bắc được ấn định rõ rệt tại vĩ tuyến 17. Một Khu Phi Chiến (DMZ) rộng 3 miles (hải lý) từ ranh giới của hai bên cũng được thiết lập để ngăn cách hai miền Nam Bắc Việt Nam.

    5-Thể chế dân chủ pháp trị đã được Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa liên tục áp dụng để bảo đảm nhân quyền và dân quyền, đồng thời xây dựng dân chủ và phát triển đất nước. Các cuộc bầu cử ở các cấp trung ương, tỉnh và xã đã được tổ chức theo nguyên tắc tự do ứng cử và bầu cử và phổ thông đầu phiếu.

    6- Báo chí tư nhân đã được tự do xuất bản căn cứ theo đạo luật ban hành năm 1881 tại Pháp và được áp dụng tại Nam kỳ (Nam Việt Nam) từ thời thuộc địa Pháp để tôn trọng quyền tự do báo chí và quyền tự do tư tưởng. Tư nhân xuất bản sách báo chỉ cần tôn trọng quy chế nạp bản tại Văn khố (Archive).

    7- Hoạt động của các cơ quan cảnh sát công an đặt dưới quyền kiểm soát chặt chẻ của bộ Nội Vu, Công tố viện và Tòa án. Nói một cách cụ thể, dưới chánh thể Đệ Nhứt Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Thẩm phán Huỳnh Sanh Phương (anh của Giáo sư Huỳnh Sanh Thông, dịch giả Flowers In Hell từ tập thơ Hoa Địa Ngục của Nguyễn Chí Thiện), Chánh Biện Lý Tòa Sơ thẩm Sài Gòn đã mở cuộc điều tra sâu rộng khi một bị can chết trong thời gian bị tạm giam tại Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia.

    8- Chánh nghĩa sáng ngời của Quốc Gia Việt Nam đã được thể hiện qua lập trường của Thủ tướng Trần văn Hữu xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội nghị San Francisco 1951 kết thúc Thế Chiến II. Phái đoàn của hai nước cộng sản Liên Xô và Trung Quốc đã không tranh cải về chủ quyền trên hai quân đảo kể trên với phái đoàn Quốc Gia Việt Nam.

    9- Chánh nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa trên chánh trường và dư luận quốc tế cũng đã được soi sáng bởi sự hy sinh cao cả của 74 chiến sĩ Hải quân trong trân hải chiến hào hùng tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974 để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông mặc dầu trận chiến không cân xứng.

    Tính Hợp pháp của Việt Nam Cộng Hòa

    Trong thế kỷ 20, Việt Nam Cộng Hòa thật sự là một quốc gia độc lập, hợp pháp và có chủ quyền.

    1- Về mặt quốc tế công pháp, Việt Nam đã được hai nước Nhựt và Pháp lần lượt trao trả độc lập trước và sau khi chấm dứt Thế Chiền II :

    – Ngày 9-3-1945, quân đội chiếm đóng Nhựt bổn đảo chánh nhà cầm quyền Pháp và Đại sứ Toàn Quyền của nước Nhựt trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 11-3-1945, Hoàng đế Bảo Đại tuyên cáo hủy bỏ các hiệp ước 1862, 1874 và 1884 và ban hành Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhứt: nước Việt Nam đôc lập gồm cả ba miền Nam, Trung, Bắc. Nội các Trần Trọng Kim do Hoàng đế Bảo Đại bổ nhiệm gồm có nhiều trí thức lỗi lạc. Nhưng ngày 19-8-1945, đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng bạo lực cướp chánh quyền của Hoàng đế Bảo Đại và cưỡng bức nhà vua phải thoái vị để tránh khỏi nội chiến. Nhận thấy rõ đảng Cộng Sản chủ trương bạo động để cướp đoạt chánh quyền, Cựu Hoàng Bảo Đại đã rời Hà Nội, đi lưu vong tại Trùng Khánh và Hong Kong trước khi thương thuyết với Cao ủy Pháp Emile Bollaert và ký kết hiệp định Vịnh Hạ Long (Accords du Baie d’Along) ngày 5-6-1948 công nhận nền độc lập của nước Việt Nam trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. Hiệp định Vịnh Hạ Long đã được bổ túc bởi hiệp ước Élysée (Traité d’Élysée) ký kết ngày 9-3-1949 giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol công nhận một Quốc Gia Việt Nam thống nhứt và độc lập hoàn toàn. Ngay sau đó, Quốc Gia Việt Nam (État du Vietnam) dưới quyền lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại đã được nhiều nước trong Thế Giới Tự Do (Free World) công nhận và trao đổi quan hệ ngoại giao. Ngoài ra, Quốc Gia Việt Nam còn tham gia một số lớn tổ chức quốc tế như Văn Hóa Quốc tế (UNESCO), Lương Nông Quốc Tế (FAO), Y Tế Thế Giới (WHO) v.v…

    Sau ngày Trưng Cầu Dân Ý (23-10-1955), nền Đệ Nhứt Cộng Hòa dưới quyền lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã được thành lập và thay thế chế độ Quốc Gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại. Dưới chánh thể Cộng Hòa, miền Nam Việt Nam đã đẩy mạnh việc phát triển các quan hệ quốc tế. Vì Liên Xô phủ quyết (veto) sư gia nhập Liên Hiệp Quốc của Việt Nam Cộng Hòa, vị trí Quan sát viên thường trực Liên Hiệp Quốc đã được Tổ chức quan trọng nầy dành cho Việt Nam Cộng Hòa.

    2- Về mặt nội trị, Quốc Gia Việt Nam cũng như Việt Nam Cộng Hòa đã được tổ chức và điều hành theo thể chế dân chủ pháp trị:

    – Ban hành Dụ số 1 ngày 1-7-1949 tổ chức nền hành chánh trung ương và Dụ số 2 ngày 1-7-1949 tổ chức nền hành chánh địa phương.

    – Thành lập Quân đội Quốc gia và ngành Tư pháp độc lập năm 1950.

    – Áp dụng Quy chế Công vụ (Statut de la Fonction Publique) quy định nghĩa vụ và quyền lợi của công chức cùng các hình thức thưởng phạt công minh.

    – Tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo, biểu quyết và ban hành Hiến pháp ngày 26-10-1956 dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa và Hiến pháp ngày 1-4-1967 dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa.

    – Các cơ quan công quyền phải điều hành một cách minh bạch căn cứ theo pháp luật. Không cá nhân nào có quyền đứng trên Hiến pháp và luật pháp.

    – Thành lập Giám Sát Viện với thẩm quyền của một định chế hiến định độc lập phụ trách bài trừ tham nhũng, thẩm tra kế toán và kiểm kê tài sản của tất cả nhân viên các cơ quan cộng quyền, kể cả Tổng Thống.

    Chế độ cộng sản Việt Nam có chánh danh và hợp pháp hay không?

    Các sự kiện lịch sử kể sau có thể chứng minh nhà cầm quyền cộng sản thiếu chánh danh và bất hợp pháp:

    1- Cướp chánh quyền bằng bạo lực: Các tài liệu tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam công nhận đã sử dụng bạo lực của súng đạn để cướp chánh quyến chánh thống của Hoàng đế Bảo Đại ngày 19-8-1945 tại Hà Nội và ngày 23-8-1945 tại Sài Gòn. Chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh đã ra đời từ bạo lực cướp chánh quyền thay vì do nhân dân bầu cử. Một người xa lạ từ hang Pác Bó ở Cao Bằng tự nhiên về Hà Nội làm Chủ tịch nước mặc dầu không được người dân bầu cử lựa chọn để lãnh đạo quốc gia Việt Nam mới thâu hồi độc lập sau khi Nhựt đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945. Nhân vật kỳ bí nầy lại nói và viết tiếng Việt không rành, cầm bút sắt hoặc bút bi theo kiểu cầm bút lông để viết chữ Hán.

    Từ khi cướp được chánh quyền của Nội các Trần Trọng Kim, nhà cầm quyền cộng sản từ thởi Hồ Chí Minh đến Nguyễn Phú Trọng đã tổ chức các cuộc bầu cử theo lối “đảng cử, dân bầu”. Nếu không phải là đảng viên cộng sản, người dân không có quyền tự do ứng cử và bầu cử. Ứng cử viên phải được Mặt Trận Tố Quốc, một cơ quan ngoại vi của đảng Cộng Sản, tuyển chọn trước.

    Tiếp nối theo hành động cướp chánh quyền năm 1945, đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành cuộc chiến tranh 30 năm để chiếm đoạt chánh quyền trong cả nước năm 1975 với viện trợ võ khí hùng hậu của Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Bạo lực giết người đã giúp cho đảng Cộng sản Việt Nam trở thành chủ nhân ông của dân tộc Lạc Việt và hoàn thành sứ mạng nhưộm đỏ cả nước Viêt Nam do Liên Xô và Trung Quốc giao phó. Đối với đảng Cộng sản Việt Nam, mục đích biện minh cho phương tiện.

    2- Quốc tế không công nhận ngụy quyền Hồ Chí Minh: Hình thành từ bạo lực của một vài tay súng ngày 19-8-1945 thay vì do nhân dân bầu cử, ngụy quyền Hồ Chí Minh đã không được các nước trên thế giới công nhận, kể cả Liên Xô. Mãi đến đầu năm 1950, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ Chí Minh, một cán bộ cộng sản quốc tế, thành lập ngày 2-9-1945 mới được nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa công nhận. Quốc gia nầy là đại quốc cộng sản đầu tiên tại Á châu có ảnh hưởng chi phối đối với nước lân bang Việt Nam nhờ Chủ tịch đảng Cộng Sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã có viễn kiến gởi Thiếu tá gián điệp Hồ Quang đến hang Pác Bó trong tỉnh Cao Bằng từ cuối năm 1940 để lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Nối tiếp theo Trung Quốc, Liên Xô và một vài nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chư hầu của Liên Xô, mới lần lượt công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tuy nhiên, từ 1945 đến cuối thập niên 1960, chế độ cộng sản của Hồ Chí Minh chưa gia nhập các tổ chức quốc tế và cũng không phải là Quan sát viên thường trực tại Liên Hiệp Quốc như Việt Nam Cộng Hòa.

    3- Hiến pháp chỉ là một mãnh giấy vô giá trị đối với Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam: Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời trong tháng 11-1946 nhưng bị đình chỉ thi hành từ ngày 19-12-1946 đến khi bị thay thế 13 năm sau bởi bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa ban hành năm 1959. Bản Hiến pháp đầu tiên tương đối dân chủ chỉ sống được trên một tháng mà thôi. Hiến pháp chỉ là một bày trò dân chủ của đảng Cộng sản. Từ 1945 đến ngày nay, chế độ Cộng sản Việt Nam đã lần lượt ban hành 5 bản Hiến pháp vào các năm 1946, 1959, 1980,1992 và 2013 nhưng Hiến pháp của chế độ cộng sản Việt Nam bị đặt dưới các nghị quyết của đảng Cộng sản. Xây dựng một chế độ độc tài toàn trị, Đảng và Nhà nước cộng sản không bị bắt buộc phải tôn trong Hiến pháp như các quốc gia dân chủ trong đó có Việt Nam Cộng Hòa. Về nội dung, các bản Hiến pháp của Việt Nam cộng sản ngày càng tệ hại thay vì cải tiến theo xu hướng dân chủ hóa đất nước.

    4- Gây ra 30 năm chiến tranh (1945-1975): Dưới các chiêu bài giả dối “giải phóng dân tộc”, “thống nhứt đất nước” và “đánh Mỹ cứu nước”, đảng Cộng sản Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Thiếu tá Tình báo Hồ Quang đã liên tục tiến hành hai cuộc Chiến Tranh Đông Dương (Indochina Wars) để bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn cõi Đông Dương và Đông Nam Á theo chỉ thị và với viện trợ hùng hậu của Trung Quốc và Liên Xô. Chính Lê Duẫn, cố Tổng Bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam đã công khai nhìn nhận: Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc và cho các nước xã hội chủ nghĩa. Dân tộc Việt Nam đã phải trả giá quá đắt cho 30 năm chiến tranh do đảng Cộng sản gây ra theo lịnh truyền của ngoại bang bằng xương máu và nước mắt của cả chục triệu đồng bào vô tội. Ngoài tổn thất sinh mạng và tang tóc lan tràn khắp mọi nhà, 30 năm chiến tranh đã tàn phá đất nước vô cùng nặng nề. Người hưởng lợi chiến tranh chỉ là đảng Cộng Sản Việt Nam và cán bộ, đảng viên mà thôi: chiếm đoạt chánh quyền trong cả nước, trở thành vua quan, đại gia và tư bản đỏ sống trên nhung lụa, xương máu và khổ đau của đồng bào nghèo khổ bị đối xử và bóc lột như người nô lệ trong thời thượng cổ.

    5- Vi phạm luật pháp quốc tế: Khi xâm lăng và thôn tính Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia độc lập và có chủ quyền, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt cộng sản) đã công khai vi phạm Hiệp định Genève 1954 và Hiệp định Paris 1973. Vi phạm luật pháp quốc tế là một hành động hợp pháp hay bất hợp pháp ? Một nước sử dụng bạo lực của súng đạn để thôn tính một nước láng giềng phải bị lên án là một nước xâm lược có hành động bất hợp pháp !

    6- Vi phạm Công Ước Geneva ngày 27-27-1929 về tù binh: Sau ngày đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia độc lập đã chiến đấu tự vệ chống lại sự xâm lăng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kẻ thắng trận đã xem tất cả quân, cán, chánh miền Nam Việt Nam là tù binh và bắt giam họ dài hạn trong các nhà tù và trại tập trung cải tạo nhưng không xét xử trước tòa án. Trong thời gian tù đày vô hạn định, các tù binh Việt Nam Cộng Hòa đã bị hành hạ, ngược đải dưới nhiều hình thức: lao động khổ sai, thiếu ăn, thiếu uống, thiếu chăm sóc sức khỏe, bặt tin tức gia đình, bị đánh đập, đay nghiến tinh thần, chửi bới, răn đe v.v… Rất nhiều trí thức và nhân tài của miền Nam Việt Nam đã chết trong ngục tù cộng sản, trong số đó có Bác sĩ Phan Huy Quát, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Duy Xuân, Đại tá Sử gia Phạm văn Sơn, Đại tá Khổng văn Tuyển, Giám Đốc Nha Viễn Thông bộ Nội Vụ v.v.

    7- Tiến hành Cải Cách Ruộng Đất từ 1953 đến 1955 theo chỉ thị của Liên Xô và Trung Quốc, Việt Cộng đã giết hại 172,000 đồng bào vô tội. Chánh sách dã man “Trí, Phú, Địa, Hào. Đào Tận Gốc, Trốc Tận Rễ” đã tố cáo chế độ cộng sản Việt Nam là một chế độ gian ác, man rợ và vô nhân tính đã giết chết ngay từ ngày đầu bà Nguyễn thị Năm tức bà Cát Hanh Long, một ân nhân của các lãnh tụ cộng sản đã giúp đỡ rất nhiều cho Việt Minh trong buổi ban đầu.

    8- Vi phạm thỏa hiệp ngưng bắn trong 3 ngày Têt Mậu Thân (1968), Cộng Sản Việt Nam đã gây ra nhiều tang tóc cho đồng bào trong 3 ngày Tết Nguyên đán, nhứt là giết chết 7,000 thường dân trong thời gian tạm chiếm cố đô Huế. Sự vi phạm thỏa hiệp ngưng bắn và lạm sát người vô tội nầy là những hành động diệt chủng (genocide), phi pháp và bất xứng.

    9- Cướp đoạt tài sản của Nhà nước Việt Nam Cộng Hòa và nhân dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30-4-1975 là những hành vi cướp giựt hoàn toàn bất hợp pháp. Mọi người đều thấy vô số xe tải, xe lửa và tàu thủy liên tục chở rất nhiều vật dụng và xe, máy có giá trị từ Nam ra Bắc trong nhiều tháng. Dân chúng miền Nam Việt Nam cũng chắc chắn còn nhớ rõ 3 lần đổi tiền, chiến dịch đánh tư sản mại bản và chiến dịch đánh tư sản dân tộc do Đỗ Mười điều khiển để tước đoạt tài sản của họ và đánh sập nền kinh tế thị trường của miền Nam. Trong số tài sản cướp đọat của Việt Nam Cộng Hòa có 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam do Pháp quốc chuyển giao cho Quốc Gia Việt Nam để làm trử kim bảo đảm giá trị đồng bạc của nước ta.

    10- Vay nợ công : Đến nay, Nhà nước cộng sản và các Doanh nghiệp quốc doanh của các cán bộ, đảng viên đã vay vài trăm tỷ Mỹ kim của các quốc gia phát triển và các định chế tài chánh quốc tế để ăn chận, thủ lợi riêng. Nếu không có khả năng trả nợ (vốn lẫn lời) và quỵt nợ, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ bị xem là những kẻ lường gạt bêu xấu đất nước. Phải chăng đảng Cộng sản muốn giao gánh nặng nợ công cho các thế hệ chưa ra đời ? Quỵt nợ là một hành vi bất hợp pháp và nhục nhã!

    11- Nhượng bán đất nước cho Trung Quốc: Từ 1958 đến nay, Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam đã ký kết nhiều văn kiện nhưọng bán lãnh thổ cho Trung Quốc vì đã mang ơn Trung Quốc giúp đỡ đánh chiếm được chánh quyền trên toàn cõi đất nước Việt Nam từ 1950 đến 1975:

    – Công hàm ngày 14-8-1958 của Phạm văn Đồng, Thủ tướng trong nửa thế kỷ 20 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo mật lịnh của Hồ Chí Minh. Ngày nay, Trung Quốc đã sử dụng công hàm nầy để độc chiếm Biển Đông (South China Sea), lấn chiếm Thềm lục địa (200-350 hải lý) và Vùng Đặc quyền Kinh tế (200 hải lý trùng lấp với Thềm lục địa) của Việt Nam, giành độc quyền đánh cá và khai thác các tài nguyên dồi dào của Biển Đông (dầu khí, khoáng sản, rong biển), chận bít đường đi ra hải phận quốc tế của tàu thuyền Việt Nam, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, xây dựng và quân sự hóa các thực thể nhân tạo trên quần đảo Trường Sa để uy hiếp các tỉnh miền Nam Việt Nam và kiểm soát con đường hàng hải quốc tế trên Biển Đông. Trong tương lai không xa, Trung Quốc có thể thiết lập Vùng Nhận Dạng Phòng Không trên vùng Trường Sa để khống chế không lưu.

    – Ký kết hiệp định ngày 30-12-1999 dưới thời Tổng Bí thư đảng Cộng sản Lê Khả Phiêu chuyển nhượng cho Trung Quốc trên 700 km2 đất liền dọc theo các tỉnh biên giới Việt-Hoa, trong đó có Ãi Nam Quan, Bãi Tục Lãm, thác Bản Giốc, cao điểm Lão Sơn. Hiệp định nầy đã được Quốc Hội phê chuẩn.

    – Ký kết hiệp định ngày 25-12-2000 dưới thời Tổng Bí thư đảng Cộng sản Lê Khả Phiêu tăng thêm 11,000 km2 diện tích biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc trong Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin). Căn cứ theo hiệp ước Thiên Tân ký kết năm 1887 giữa Lý Hồng Chương, đại diện Đại Thanh và Patenôtre, đại diện Pháp quốc, Vịnh Bắc Việt đã được phân chia như sau có lợi cho Việt Nam: Việt Nam: 63% Trung Hoa (Chine) : 37%. Ngày nay, dưới thời cộng sản, diên tích biển trong Vịnh Bắc Việt của Việt Nam và Trung Quốc gần như bằng nhau. Hơn nữa, Trung Quốc có quyền lựa chọn vùng biển có dầu khí dưới đáy biển trong Vịnh Bắc Việt thuộc chủ quyền của mình. Hiệp định ngày 25-12-2000 cũng đã được Quốc Hội bù nhìn cộng sản Việt Nam phê chuẩn.

    – Ký kết mật ước Thành Đô năm 1990: Sau khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sụp đỗ tại Âu châu năm 1989, đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận đầu hàng Trung Quốc và Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh đã thẳng thừng tuyên bố: Thà mất nước hơn mất đảng. Để được Trung Quốc giúp giữ vững ngôi vị thống trị Việt Nam, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Nguyễn văn Linh, Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố Vấn Phạm văn Đồng đã đến Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, hội kiến Chủ tịch đảng Công sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng. Phái đoàn cộng sản Việt Nam ngỏ ý Việt Nam muốn xin làm một Khu Tự trị của Trung Quốc. Giang Trạch Dân chấp nhận đề nghị của Việt Nam và quyết định Việt Nam phải sát nhập vào Trung Quốc năm 2020 tức là 30 năm sau hội nghị Thành Đô. Sau khi thi hành mật ước Thành Đô trước hoặc sau năm 2020, nước Việt Nam sẽ không còn là một nước độc lập trên bản đồ thế giới trong vài năm tới!

    – Ký kết 15 mật ước năm 2016: Để chuẩn bị thi hành mật ước Thành Đô vào năm 2020, Nguyễn Phú Trọng, đương kim Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, đã lén lút ký kết với Trung Quốc 15 văn kiện quan trọng. Đến nay, Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam tiếp tục giấu kín mật ước Thành Đô 1990 và 15 văn kiện Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Trung Quốc. Mặc dầu vậy. mọi người dân Việt đều biết rõ mật ước Thành Đô và 15 văn kiện bán nước của Nguyễn Phú Trọng nhằm mục đích sát nhập Việt Nam vảo mẫu quốc Tàu của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam.

    Nói tóm lại, dưới sự dìu dắt của Thiếu tá Tình báo Hồ Quang, “Cha Già Dân Tộc” của người cộng sản, nước Việt Nam sẽ là một bộ phận của nước Tàu như dưới thời Nhà Hán trong thế kỷ thứ nhứt và dân tộc Lạc Việt sẽ bị Hán hóa như các bộ tộc Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử sau khi đã hy sinh ít nhứt 10 triệu người trong 30 năm chiến tranh để thực hiện lời dạy của ông gián điệp Tàu gốc Hẹ: Hãy bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn cõi Việt Nam. Đò là “thiên đường” của dân tộc Việt Nam và “mùa xuân của nhân loại”!

    California, ngày 29-8-2017

    Thẩm phán Phạm Đình Hưng

    https://hon-viet.co.uk/TPPhamDinhHung…

  • Kính thưa đồng bào và quý vị,

    Cộng Sản đã tạm chiếm Miền Bắc năm 1954 và Miền Nam năm 1975.

    Cộng Sản sắp sụp đổ, người Việt phải lấy lại cả hai miền Nam Bắc, chứ không thể chỉ lấy lại Miền Nam thôi.

    Nếu chỉ đòi Miền Nam thôi thì Miền Bắc để cho ai?

    Cho Tàu chăng?!

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong tuyên bố chủ quyền từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau cho Việt Nam Cộng Hoà.

    Hiến Pháp Đệ Nhất và Hiến Pháp Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hoà đều nói rõ chủ quyền Việt Nam từ Ải Nam Quan Đến Mũi Cà Mau.

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    Phone: 408-623-1814

    Email: nguyenthequangusa@gmail.com

    8/3/2020

  • Kính thưa đồng bào, quý chiến hữu và quý vị,

    Hiến Pháp Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà nói rõ trong phần giới thiệu:

    “Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:

    Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan; …”

    Hiến Pháp Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hoà cũng nói rõ vấn đề toàn vẹn lãnh thổ:

    “Điều 1

    1. Việt Nam là một nước Cộng Hòa, độc lập, thống nhất lãnh thổ bất khả phân.

    2. Chủ quyền Quốc gia thuộc về toàn dân.”

    Việt Nam Cộng Hoà không ký Hiệp Định Genève 1954 chia cắt Nam Bắc; do đó, không chịu trách nhiệm tuân thủ Hiệp Định.

    Chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị cưỡng bức ký Hoà Đàm Paris 1973, công nhận tính chính danh của Cộng Sản Bắc Việt và bù nhìn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam; do đó, Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà tiếp tục phủ nhận tính chính danh hợp pháp của Cộng Sản Bắc Việt và bù nhìn Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. 

    Nhà cầm quyền độc tài toàn trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam là bù nhìn của băng đảng Cộng Sản Quốc Tế, không có tính chính danh, không hợp pháp vì không hề được dân bầu chọn trong một cuộc bầu cử tự do.

    Thực sự, Việt Cộng đã cướp chính quyền hợp pháp của Thủ Tướng  Trần Trọng Kim bằng bạo lực và bảo vệ nguỵ quyền Việt Cộng bằng bạo lực. Do đó, chính quyền Việt Cộng là bất hợp pháp!

    Cộng Sản Việt Nam sẽ tháo chạy khi Tàu Cộng chính thức sát nhập Việt Nam.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong – chính danh hợp pháp tiếp nối nền Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hoà – tuyên bố chủ quyền trên toàn cõi Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau với Hoàng Sa và Trường Sa.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong kêu gọi toàn dân đoàn ngũ hoá trong những tổ chức của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong để sẵn sàng phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà.

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong sẽ trở về thay thế nguỵ quyền Việt Cộng và thiết lập nền Đệ Tam Cộng Hoà.

    Cùng nhau, chúng ta sẽ giải cứu Quốc Gia Dân Tộc thoát Cộng thoát Tàu!

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    Phone: 408-623-1814

    Email: nguyenthequangusa@gmail.com

    30/8/2022

  • Kính thưa đồng bào, quý chiến hữu và quý vị,

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong (CPVNCHLV) có mục đích phục hoạt Việt Nam Cộng Hoà để giải cứu dân nước thoát nạn Tàu Cộng bành trướng và chế độ độc tài đảng trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN).

    Có thể nói ĐCSVN chỉ là bù nhìn của Tàu Cộng vì Tổng Bí Thư ĐCSVN phải được Tàu chỉ định hay chấp thuận. Quan chức Việt Cộng nào không trung thành với Tàu đều bị loại bỏ khỏi vị trí quyền lực. Hiện nay, Việt Nam thực sự đang ở trong thời kỳ Bắc Thuộc.

    Thế giới tự do và thế giới độc tài sẽ đụng độ quyết liệt, một mất một còn.

    Tàu có thể sẽ sát nhập Việt Nam.

    Người có ý thức trách nhiệm với Quốc Gia Dân Tộc cần khiêm tốn tìm đến nhau để bàn kế hoạch đối phó.

    CPVNCHLV kêu gọi toàn dân đoàn ngũ hoá trong các tổ chức của chính quyền trung ương và địa phương các cấp hầu người dân Việt có thể sẵn sàng thiết lập chế độ tự do dân chủ, độc lập.

    Trân trọng,

    T.M. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong,

    Nguyễn Thế Quang, Tổng Thống

    8/3/2025

  • Les réfugiés vietnamiens auraient dû créer un gouvernement officiel en exil après leur arrivée aux États-Unis d’Amérique en 1975. Cependant, pour diverses raisons, les anciens dirigeants de la République du Vietnam n’y sont pas parvenus.

    Il y a huit ans, j’ai décidé de créer Le Gouvernement de la République du Vietnam en Exil. J’avais créé le Mouvement Démocratique Vietnamien et puis le Parti Démocratique Vietnamien quelques années plus tôt.

    J’ai la vision que les États-Unis d’Amérique et le Monde de la Liberté et de la Démocratie finiront par vaincre la Chine et le monde de l’autocratie. En conséquence, le régime communiste fantoche du Vietnam s’effondrera, tout comme son patron chinois.

    Les réfugiés vietnamiens ont la chance de retourner dans leur patrie. Je pense que la première étape de ce processus devrait être la création du gouvernement de la République du Vietnam en exil pour restaurer la République du Vietnam.

    Le peuple vietnamien souffre du totalitarisme communiste depuis tant d’années et aspire à ce que la République du Vietnam revienne pour remplacer le régime communiste vietnamien – qui est en réalité la marionnette de la Chine.

    J’étais lycéen lorsque la République du Vietnam est tombée aux mains du communisme en 1975. J’ai fui le Vietnam pour retrouver la liberté en bateau vers la Malaisie en 1988 et je suis arrivé aux États-Unis d’Amérique en 1989.

    J’ai été para éducateur pendant 7 ans et je suis enseignant depuis 27 ans.

    J’ai lancé le gouvernement de la République du Vietnam en exil dans l’espoir que le peuple vietnamien, les États-Unis d’Amérique et le monde de la liberté et de la démocratie nous aideraient éventuellement à restaurer la République du Vietnam.

    Un gouvernement légal ne peut être justifié que par le consentement de son peuple via des élections libres. Le gouvernement communiste est illégal parce qu’il n’est pas justifié par le consentement du peuple via des élections libres.

    Lorsque le communisme s’effondrera au Vietnam, le gouvernement de la République du Vietnam en exil devrait devenir un gouvernement provisoire pour éviter le chaos national. Le gouvernement provisoire organisera des élections libres et démocratiques pour élire les responsables du gouvernement central et des gouvernements locaux d’un régime authentiquement libre et démocratique.

    Vous êtes invités à nous rejoindre.

    Les frais d’adhésion sont de 5 $/mois + 100 $ pour frais d’adhésion initiale.

    Merci.

    Salutations,

    Au nom du Gouvernement de la République du Vietnam en Exil,

    Nguyen The Quang, Président

    4/4/2024

    Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà Lưu Vong

    Gouvernement de la République du Vietnam en exil

    Société à but non lucratif – CA – D’intérêt public

    1165 Barrington Ct San José CA 95121 États-Unis

    #######

    Formulaire de candidature pour rejoindre le gouvernement de la République du Vietnam en exil

    1. Informations personnelles

    Nom :

    Téléphone :

    Courriel :

    Adresse :

    Autre nom :

    Date de naissance :

    Lieu de naissance :

    Éducation :

    Majeure/Expertise :

    Biographie/À propos de vous :

    2. Poste de choix (voir les lignes directrices ci-dessous) :

    3. Engagement :

    Je prête allégeance au drapeau de la République du Vietnam et à la patrie du Vietnam qu’il représente, un Vietnam adorant Dieu, indivisible et garantissant la liberté, la démocratie et la justice pour tous.

    4. Signature :

    5. Date :

    Veuillez envoyer le formulaire de candidature à nguyenthequang1958cpvnchlv@gmail.com

    #######

    Des Lignes Directrices

    A. Gouvernement central ou gouvernement local ?

    B. Si central, législatif, administratif ou judiciaire ?

    C. Si législatif, Sénat ou Chambre des représentants ?

    D. Si administratif, sélectionnez 1 des 16 départements :

    1. Ministère de l’information

    2.  Ministère du Trésor

    3. Ministère du Travail

    4. Ministère de l’Agriculture

    5. Ministère des Affaires Étrangères

    6. Ministère de l’Éducation

    7. Ministère de l’Intérieur

    8. Ministère de la Sécurité Intérieure

    9. Ministère de la Défense

    10. Ministère de la Justice

    11. Ministère de la Santé et des Services Sociaux

    12. Ministère du Logement

    13. Ministère de l’Énergie

    14. Ministère des Transports

    15. Ministère du Commerce

    16. Ministère des Anciens Combattants

    a-gouvernement central

    b-province

    c-district

    d-village

    E. Si judiciaire, sélectionnez 1 des 4 choix ci-dessous:

    a-Cour Suprême

    b-Région (Sud, Centre, Nord)

    c-Province

    d-District

    F. Si gouvernement local, sélectionnez 1 des 63 provinces/mégapoles.

    1. Sài Gòn (Capital)

    2. Hà Nội

    3. Hải Phòng

    4. Đà Nẵng

    5. Cần Thơ

    6. Lai Châu

    7. Điện Biên

    8. Lào Cai

    9. Hà Giang

    10. Cao Bằng

    11. Lạng Sơn

    12. Yên Bái

    13. Tuyên Quang

    14. Bắc Cạn

    15. Thái Nguyên

    16. Sơn La

    17. Phú Thọ

    18. Vĩnh Phúc

    19. Bắc Ninh

    20. Bắc Giang

    21. Quảng Ninh

    22. Hòa Bình

    23. Hưng Yên

    24. Hải Dương

    25. Thái Bình

    26. Hà Nam

    27. Nam Định

    28. Ninh Bình

    29. Thanh Hóa

    30. Nghệ An

    31. Hà Tĩnh

    32. Quảng Bình

    33. Quảng Trị

    34. Thừa Thiên Huế

    35. Quảng Nam

    36. Quảng Ngãi

    37. Kontum

    38. Gia Lai

    39. Bình Định

    40. Phú Yên

    41. Đắc Lắc

    42. Đắc Nông

    43. Khánh Hòa

    44. Lâm Đồng

    45. Ninh Thuận

    46. Bình Thuận

    47. Bình Phước

    48. Tây Ninh

    49. Bình Dương

    50. Đồng Nai

    51. Bà Rịa – Vũng Tàu

    52. Long An

    53. Đồng Tháp

    54. Tiền Giang

    55. Bến Tre

    56. An Giang

    57. Vĩnh Long

    58. Kiên Giang

    59. Hậu Giang

    60. Trà Vinh

    61. Sóc Trăng

    62. Bạc Liêu

    63. Cà Mau

    Niveaux

    1- province

    2- district

    3- village

    Domaines

    a- le conseil du gouvernement local

    b- police

    c- garde locale

    P.S.

    Les membres qui perdent la connexion pendant plus de 3 mois pour quelque raison que ce soit perdent également leur adhésion et leur poste. Ils doivent contacter l’organisation pour rétablir leur adhésion et assumer de nouveaux postes.

    (Mise à jour le 4 avril 2024)

    #######